Chuyển từ “thu hút bằng ưu đãi” sang “đồng hành bằng cam kết”
Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Theo đó, dự thảo Luật đã sửa đổi Điều 17 của Luật hiện hành về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư. Điểm đáng chú ý là các quy định bổ sung mới của dự thảo Luật đã thể hiện quan điểm chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, quản trị cả vòng đời dự án, kết nối với doanh nghiệp trong nước.
Ưu tiên những lĩnh vực tạo năng lực mới
Một trong những điểm đáng lưu ý là dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung dự án đầu tư trong một số lĩnh vực cốt lõi cần ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài. Bên cạnh các dự án về trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm dữ liệu lớn, điện toán đám mây, hạ tầng 5G trở lên và công nghệ chiến lược... dự thảo Luật đã bổ sung nhiều lĩnh vực như: dự án đầu tư trong các lĩnh vực công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến, công nghiệp xanh; dịch vụ logistics hiện đại, dịch vụ chuỗi cung ứng, dịch vụ tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo có giá trị gia tăng cao, kho dự trữ năng lượng, dự trữ hàng hóa cho khu vực và quốc tế có quy mô vốn đầu tư và thời hạn giải ngân vốn đầu tư theo quy định của Chính phủ.
Việc bổ sung các ngành nghề thuộc diện ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt như dự thảo Luật nhằm thể chế hóa định hướng tại Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời thu hút đầu tư các ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng lớn, có khả năng dẫn dắt chuỗi cung ứng và tạo tác động lan tỏa, thay vì giới hạn ưu đãi đặc biệt chủ yếu ở một số lĩnh vực công nghệ.

Với quy định này cho thấy, bước chuyển lớn trong chính sách thu hút đầu tư. Đó là chúng ta không chạy theo số lượng dự án, mà hướng đến những ngành, lĩnh vực có khả năng tạo năng lực cạnh tranh mới cho nền kinh tế. Đây cũng là điểm phù hợp với định hướng nâng cao tính tự chủ chiến lược của nền kinh tế. Một dự án đầu tư chỉ thực sự tạo ra giá trị dài hạn khi không đứng tách biệt với nền kinh tế trong nước, mà có khả năng kéo theo doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và hình thành hệ sinh thái sản xuất, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.
Ưu đãi để tạo nguồn lực thúc đẩy năng lực nội sinh
Bên cạnh mở rộng phạm vi đối tượng được hưởng ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt, dự thảo Luật cũng sửa đổi quy định về hỗ trợ đầu tư đặc biệt, trong đó có các hình thức hỗ trợ đặc biệt từ ngân sách nhà nước, việc sử dụng lợi nhuận để lại để mở rộng đầu tư, cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tiếp cận công nghệ và thị trường quốc tế.
Về các hình thức hỗ trợ đầu tư đặc biệt từ ngân sách nhà nước, dự thảo Luật bổ sung cơ chế hỗ trợ đầu tư đặc biệt theo hướng Nhà nước trực tiếp chia sẻ hỗ trợ một phần chi phí hợp lệ khi doanh nghiệp có hoạt động phát triển nhà cung ứng trong nước, nghiên cứu và phát triển (R&D) liên kết với các tổ chức trong nước, đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực Việt Nam, tạo tác động tích cực, lan tỏa cho nền kinh tế là cần thiết.
Dự thảo Luật quy định các dự án được áp dụng hỗ trợ đầu tư đặc biệt trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên được hỗ trợ tối đa 50% chi phí hợp lệ đủ điều kiện để phát triển nhà cung ứng trong nước tham gia vào chuỗi giá trị; hỗ trợ tối đa 50% chi phí hợp lệ đủ điều kiện cho các dự án nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài liên kết với các viện, trường, cơ sở đào tạo nghề, doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ tối đa 50% chi phí đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực cho người lao động là người Việt Nam; hỗ trợ tối đa 2% chi phí đầu tư tạo tài sản cố định cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng lợi nhuận chưa chuyển về nước để mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Đây là điểm mới nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ tại Nghị quyết số 10-NQ/TW để khuyến khích nhà đầu tư tăng cường liên kết, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao giá trị gia tăng trong nước.
Với quy định bổ sung này cho thấy, Nhà nước không chỉ giảm chi phí cho nhà đầu tư, mà hướng đến chia sẻ một phần chi phí để tạo ra những năng lực mà Việt Nam cần. Nhà nước hỗ trợ phát triển nhà cung ứng trong nước có thể góp phần giải quyết vấn đề mà thực tế đã và đang đặt ra đó là mức độ liên kết giữa khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Chính sách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực để giải quyết bài toán năng lực công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực trong nước. Chính sách này nếu triển khai hiệu quả sẽ là giải pháp rất quan trọng thông qua hỗ trợ đầu tư đặc biệt để tạo nguồn lực thúc đẩy năng lực nội sinh.
Để góp phần thúc đẩy năng lực của các doanh nghiệp trong nước, dự thảo Luật đã bổ sung quy định về cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tiếp cận công nghệ và thị trường quốc tế. Theo đó, dự thảo Luật quy định theo hướng cho phép doanh nghiệp trong nước thực hiện dự án trong các lĩnh vực cốt lõi ưu tiên tại Nghị quyết số 10-NQ/TW được vay vốn, hỗ trợ tín dụng từ Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ Đổi mới Công nghệ quốc gia để mua công nghệ hoặc góp vốn, mua cổ phần tại các doanh nghiệp tại nước ngoài. Quy định này nhằm nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tiếp nhận công nghệ, mở rộng mạng lưới và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Chính sách thu hút đầu tư bằng cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt vào một số lĩnh vực ưu tiên theo theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm hiệu quả thực chất và phù hợp với yêu cầu đổi mới mô hình thu hút đầu tư trong tình hình mới là rất cần thiết. Điểm đáng lưu ý là cùng với cơ chế, chính sách ưu đãi, dự thảo Luật cũng đặt trọng tâm vào hiệu quả thực hiện dự án và trách nhiệm của nhà đầu tư trong suốt vòng đời đầu tư. Theo đó, dự thảo Luật quy định rõ trách nhiệm của nhà đầu tư khi được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt, bao gồm: thực hiện đầy đủ các cam kết đã đăng ký; báo cáo định kỳ việc thực hiện cam kết; cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quy định này nhằm thiết lập mối quan hệ tương ứng giữa quyền được hưởng ưu đãi, hỗ trợ và trách nhiệm thực hiện các cam kết của nhà đầu tư, qua đó nâng cao tính ràng buộc và trách nhiệm giải trình của nhà đầu tư trong suốt quá trình thực hiện dự án. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ cam kết thì có thể bị điều chỉnh, thu hồi một phần hoặc toàn bộ ưu đãi, hỗ trợ. Ưu đãi gắn với kết quả thực hiện cam kết sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực chất của chính sách, nhằm tăng cường trách nhiệm của nhà đầu tư khi đã được thụ hưởng các chính sách ưu tiên đặc biệt.
Việt Nam không thu hút đầu tư bằng mọi giá mà phải có năng lực sàng lọc và đồng hành với các nhà đầu tư tốt để cùng tạo ra giá trị mới. Việc dành chính sách ưu tiên đặc biệt cho các nhà đầu tư là rất cần thiết. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải xác định rõ, thước đo của một dự án được hưởng ưu đãi đặc biệt không chỉ là đầu tư bao nhiêu, mà phải trả lời câu hỏi nhà đầu tư, dự án đó đã “đóng góp được gì cho nền kinh tế”.

