Việt Nam với kỷ nguyên mới

Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhìn từ Nghị quyết số 06-NQ/TW62 văn kiện hợp tác - cụ thể hóa nội hàm "ngoại giao mở rộng không gian phát triển"

Quỳnh Vũ 17/08/2026 06:44

Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 9 - 14/8 khép lại với 62 văn kiện, thỏa thuận hợp tác, 3 tuyên bố chung quan trọng với Australia và một chương trình hợp tác rộng từ kinh tế, khoa học, công nghệ, giáo dục đến quốc phòng, an ninh. Nhưng giá trị đáng chú ý hơn những con số là cách chuyến thăm chuyển những định hướng của Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XIV thành những địa chỉ hợp tác, lĩnh vực hợp tác và lợi ích cụ thể.

Ngày 14/8, khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam kết thúc chuyến công tác tại Australia và New Zealand, khoảng thời gian kể từ khi Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành mới chưa đầy ba tháng.

tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-va-thu-tuong-australia-anthony-albanese-trao-tuyen-bo-chung.-anh-thong-nhat-ttxvn_watermarked.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Australia Anthony Albanese trao Tuyên bố chung trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tới Australia (từ ngày 9 - 12/8/2026). Ảnh: Thống Nhất

Nghị quyết số 06 xác định đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”; đặt nền tảng của đối ngoại trên tự chủ chiến lược, tự cường; đồng thời yêu cầu đưa đối ngoại trở thành động lực mở ra không gian phát triển mới, gắn hữu cơ với phát triển kinh tế - xã hội, thu hút các nguồn lực bên ngoài cho phát triển nhanh và bền vững. Nhìn từ yêu cầu ấy, hành trình của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ở Australia - New Zealand có thể xem là một trong những bước triển khai cụ thể và khá rõ nét của đường lối đối ngoại sau Đại hội XIV.

Khuôn khổ quan hệ được bổ sung “tầng” hợp tác mới

Australia và New Zealand có một điểm chung đáng chú ý trong mạng lưới quan hệ đối ngoại hiện nay của Việt Nam: cả hai đều đã thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với Việt Nam, Australia từ năm 2024 và New Zealand từ năm 2025. Bởi vậy, nhiệm vụ của chuyến thăm lần này không phải tạo thêm một tên gọi mới cho quan hệ song phương. Công việc khó hơn là đưa những khuôn khổ đã có vào vận hành, tạo ra những kết quả cụ thể.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung cho biết, trong chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã có các cuộc tiếp xúc với Toàn quyền, Thủ tướng, lãnh đạo Quốc hội, giới học giả, nhà khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng người Việt tại hai nước. Tổng cộng 62 văn kiện và thỏa thuận hợp tác được ký kết. Hai bên đồng thời nhất trí mở rộng hợp tác sang những lĩnh vực có ý nghĩa trực tiếp đối với mô hình tăng trưởng tương lai của Việt Nam như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, chuyển đổi số, khoáng sản thiết yếu, chuyển đổi năng lượng, nông nghiệp công nghệ cao và đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Riêng tại Australia, hai nước thông qua 3 tuyên bố chung và ký 13 văn kiện hợp tác. Ba tuyên bố gồm Tuyên bố chung về làm sâu sắc quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện; Tuyên bố chung về nâng cao sức chống chịu, thích ứng và phục hồi kinh tế; Tuyên bố chung về tăng cường kết nối khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Cách thiết kế ba văn kiện này đáng được chú ý. Một văn kiện xử lý “phần khung” của quan hệ; một văn kiện hướng tới khả năng chống chịu của nền kinh tế trước những biến động bên ngoài; văn kiện còn lại đặt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào trung tâm của hợp tác tương lai.

Như vậy, từ một khuôn khổ quan hệ chủ yếu được nhìn qua thương mại, giáo dục, hợp tác phát triển và an ninh, quốc phòng, quan hệ Việt Nam - Australia đang được bổ sung một tầng hợp tác mới gắn với năng lực cạnh tranh quốc gia.

Lần đầu tiên Việt Nam và một đối tác xây dựng một tuyên bố chung riêng về tăng cường kết nối khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo đánh giá của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung, cách tiếp cận này cho thấy sự chuyển dịch từ chuyển giao công nghệ sang cùng nghiên cứu, cùng phát triển và cùng tạo ra giá trị.

Đây không đơn thuần là thay đổi về thuật ngữ. Trong nhiều năm, hợp tác công nghệ giữa Việt Nam với các nền kinh tế phát triển thường được đặt trong quan hệ giữa một bên cung cấp và một bên tiếp nhận. “Cùng nghiên cứu, cùng phát triển” mang lại một vị thế khác của Việt Nam, cũng là khẳng định chủ trương của đường lối đối ngoại mới: “đồng kiến tạo”. Việt Nam từng bước tham gia vào quá trình tạo ra công nghệ và sản phẩm, thay vì đứng ở cuối chuỗi tiếp nhận.

Australia: từ thương mại tới sức chống chịu và công nghệ

Tuyên bố chung Việt Nam - Australia cho thấy khá rõ độ mở của chương trình hợp tác mới. Hai nước nhất trí tiếp tục phát triển hợp tác quốc phòng, an ninh từ đào tạo nguồn nhân lực, hợp tác giữa các quân chủng, chia sẻ thông tin, quân y, gìn giữ hòa bình đến an ninh biển, tìm kiếm cứu nạn và phòng, chống khủng bố. Hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia được mở rộng sang tội phạm mạng, lừa đảo trực tuyến, ma túy, mua bán người và tài trợ khủng bố.

Ở bình diện kinh tế, trọng tâm cũng thay đổi. Thương mại vẫn quan trọng, nhưng câu chuyện không dừng ở tăng kim ngạch. Hai bên đặt thêm vấn đề sức chống chịu của nền kinh tế, khả năng tiếp cận thị trường, liên kết doanh nghiệp, chuỗi cung ứng và các lĩnh vực kinh tế mới.

Reuters khi đưa tin về chuyến thăm cũng chú ý đến việc hai nước thúc đẩy hợp tác trong khoáng sản thiết yếu, bán dẫn, năng lượng sạch, đồng thời tăng cường hợp tác thực thi pháp luật trên biển và biên giới. Sự bổ trợ ấy giải thích vì sao khoa học, công nghệ được đặt ở vị trí nổi bật trong chương trình nghị sự lần này.

Tại Diễn đàn Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam - Australia ở Sydney, thông điệp được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đưa ra là xây dựng một chiến lược kết nối khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có tầm nhìn dài hạn.

Nếu các thỏa thuận sau chuyến thăm được chuyển thành phòng nghiên cứu chung, chương trình đào tạo kỹ sư, dự án bán dẫn, AI, khai thác và chế biến khoáng sản thiết yếu hay công nghệ năng lượng, giá trị của chuyến thăm sẽ không chỉ nằm trong quan hệ song phương mà sẽ góp phần thúc đẩy năng lực sản xuất của nền kinh tế Việt Nam.

New Zealand: khai thác sâu hơn những thế mạnh bổ trợ

Chương trình nghị sự tại New Zealand cho thấy một hướng tiếp cận đi sâu vào những lĩnh vực hai nền kinh tế có khả năng bổ trợ trực tiếp cho nhau. Tuyên bố chung Việt Nam - New Zealand xác định thương mại và hội nhập kinh tế là một động lực của quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện, đồng thời mở thêm các hướng hợp tác về kinh tế dựa trên công nghệ, kinh tế xanh và kinh tế biển.

Đáng chú ý, hai bên đạt những kết quả có thể đo đếm khá cụ thể về mở cửa thị trường: New Zealand mở cửa cho hoa cắt cành của Việt Nam, trong khi Việt Nam mở thị trường đối với mật ong và thịt hươu, nai của New Zealand. Hai bên cũng thống nhất tiếp tục tháo gỡ hàng rào phi thuế quan và khai thác tốt hơn CPTPP, RCEP và AANZFTA. Mục tiêu kim ngạch thương mại hai chiều 3 tỷ USD được đặt ra cùng yêu cầu tạo chuyển biến rõ hơn về thương mại và đầu tư.

Nhưng điểm đáng quan tâm hơn nằm ở nông nghiệp, giáo dục và nguồn nhân lực. New Zealand có thế mạnh hàng đầu về nông nghiệp công nghệ cao, quản trị chuỗi giá trị nông sản, giống, an toàn thực phẩm và giáo dục. Việt Nam lại đang đứng trước yêu cầu chuyển từ nền nông nghiệp dựa nhiều vào sản lượng sang nền nông nghiệp xanh hơn, có giá trị gia tăng cao hơn và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.

Bản ghi nhớ về nông nghiệp và môi trường, các sáng kiến nông nghiệp thông minh thích ứng khí hậu và hỗ trợ cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long vì vậy gắn trực tiếp với một nhu cầu phát triển trong nước.

Giáo dục cũng được đặt vào một vị trí tương tự khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tham dự Diễn đàn Giáo dục đại học và Giáo dục nghề nghiệp; hai Bộ Giáo dục ký thỏa thuận hợp tác. Hai nước hướng tới đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Cụ thể hóa nội hàm "mở rộng không gian phát triển"

Chuyến thăm Australia và New Zealand đã tạo ra những kết quả cụ thể từ Nghị quyết số 06-NQ/TW. Nghị quyết xác định năm định hướng lớn: đối ngoại góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; mở không gian phát triển mới; chủ động đóng góp vào giải quyết các vấn đề chung của quốc tế; nâng tầm vị thế đất nước; và xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp.

Trong chuyến thăm vừa qua, năm yêu cầu ấy đều được hội tụ: Quốc phòng, an ninh biển, gìn giữ hòa bình và hợp tác đa phương góp phần tạo môi trường ổn định. Thương mại, đầu tư và tiếp cận thị trường tạo thêm dư địa kinh tế. AI, bán dẫn, khoáng sản thiết yếu, năng lượng, giáo dục và nông nghiệp công nghệ cao phục vụ những nhu cầu phát triển mới. Quan hệ với cộng đồng người Việt, giới trí thức và nhà khoa học huy động thêm nguồn lực ngoài nhà nước. Việc cùng Australia và New Zealand khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN, luật pháp quốc tế và giải quyết hòa bình tranh chấp thể hiện phần trách nhiệm của Việt Nam đối với những vấn đề rộng hơn của khu vực.

Ngoại giao kinh tế không còn chỉ là xúc tiến xuất khẩu. Ngoại giao khoa học, công nghệ không đứng riêng với hợp tác giáo dục. Quốc phòng, an ninh không tách khỏi bảo đảm môi trường phát triển. Công tác người Việt Nam ở nước ngoài gắn với huy động chất xám. Quan hệ địa phương và doanh nghiệp trở thành một phần của tổng thể hoạt động đối ngoại.

Một lớp ý nghĩa khác của chuyến thăm nằm ở cách hiểu về “tự chủ chiến lược”. Trong điều kiện kinh tế thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, tự chủ khó có thể được hiểu là giảm quan hệ với bên ngoài. Một quốc gia có thể tăng tự chủ bằng cách mở rộng lựa chọn, đa dạng hóa thị trường, công nghệ, nguồn vốn, năng lượng, nguyên liệu và mạng lưới đối tác. Australia và New Zealand là hai ví dụ phù hợp với cách tiếp cận đó.

Việc phát triển quan hệ với hai quốc gia này không đặt Việt Nam vào một lựa chọn loại trừ với đối tác khác. Trái lại, nó làm dày thêm mạng lưới quan hệ, mở rộng dư địa hành động và tạo thêm nguồn lực để Việt Nam xử lý những yêu cầu phát triển của chính mình. Trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn gay gắt, chủ nghĩa bảo hộ có chiều hướng gia tăng và các chuỗi cung ứng tiếp tục được sắp xếp lại, giá trị của một mạng lưới đối tác đa dạng càng trở nên rõ rệt.

Bởi vậy, nguyên tắc độc lập, tự chủ và đa phương hóa, đa dạng hóa là nền tảng cho tư duy mới trong Nghị quyết 06. Chính nền tảng đó cho phép Việt Nam chủ động hơn trong việc tìm kiếm những quan hệ phục vụ nhu cầu phát triển ở từng thời điểm.

62 văn kiện và thỏa thuận là một kết quả lớn về khối lượng. Nhưng bản thân số lượng văn kiện chưa phải đích đến. Giai đoạn quan trọng nhất của chuyến thăm Australia và New Zealand thực ra bắt đầu sau khi đoàn trở về. Đó là lúc những tuyên bố về bán dẫn cần được chuyển thành dự án; hợp tác nghiên cứu phải tìm được trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp tham gia; thỏa thuận mở cửa thị trường phải trở thành những lô hàng; kết nối giáo dục phải tạo thêm chương trình đào tạo; hợp tác nông nghiệp phải đến được vùng sản xuất; còn các cam kết về chuyển đổi năng lượng và khoáng sản thiết yếu cần có những dự án đủ khả năng vận hành.

Nghị quyết 06 đặt mục tiêu để đối ngoại mở ra những không gian phát triển mới cho đất nước. Chuyến thăm Australia và New Zealand cho thấy những “không gian” ấy không phải một khái niệm trừu tượng mà đã được cụ thể hóa. Chúng có thể mang tên bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, khoáng sản thiết yếu, nông nghiệp công nghệ cao, giáo dục, kinh tế xanh; có thể là một thị trường mới được mở cửa hay một tuyến bay đang được tính tới.

    Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhìn từ Nghị quyết số 06-NQ/TW 62 văn kiện hợp tác - cụ thể hóa nội hàm "ngoại giao mở rộng không gian phát triển"
    • Mặc định