Chuyện ở chung cư (Phần cuối)
Truyện ngắn của Đỗ Trí Dũng
>>Chuyện ở chung cư (Phần một)
Bà Ba Hợi trước làm cấp dưỡng ở đoàn Tuồng Hương Phố Hà Nội, sống độc thân, không chồng nhưng có một thằng con trai. Nói bà độc thân là bởi anh con trai đã hy sinh ở biên giới Tây Nam hồi bẩy tám, bẩy chín. Khi con trai nhập ngũ và được điều động phục vụ ở phía Nam, bà xin chuyển vào thành phố này, làm tạp vụ cho sở Văn Nghệ, mấy năm rồi nghỉ hưu, về làm lao công cho chung cư. Nghe nói, việc bà xin chuyển công tác vào trong này cũng không hoàn toàn vì anh con trai, mà trong đó có một phần vì lãnh đạo đoàn Tuồng không chịu nổi bà cho dù công việc chính của bà là cơm nước vẫn vô cùng chu tất. Có thể điều này đúng, vì tính khí và thói quen của bà thì dù ở đâu người ta cũng khó chấp nhận. Tính bà thẳng, và bà quen nói tục.
Dạo nữ nhà thơ Linh Lan mới về chung cư thuê nhà, ai cũng khó chịu. Và không ai dám làm gì. Nữ sỹ Linh Lan là một phụ nữ sồn sồn, chưa chồng. Cô ăn mặc sến như đào cải lương và có thói quen lạ là cứ mười giờ đêm đứng ra ban công ngâm thơ như gào đò. Tất nhiên là thơ của cô sáng tác. Vì thế càng khó nghe. Có nhiều người bất bình, nhắc nhở nhưng cô cứ tỉnh bơ. Thế là hòa. Mọi người cứ bất bình, cứ xì xầm, còn cô cứ gào thơ vào lúc hăm hai giờ.
Việc mọi người ở chung cư nhịn cô cũng một phần vì có lần cô xuất hiện trên tivi, trong một cuộc tọa đàm về thơ hiện đại do kênh VTV8 tổ chức. Nói chung, trong cuộc tọa đàm đó cô được tôn vinh, vì thế mọi người dân ở đây vị nể cô cũng phải. Trong buổi tọa đàm, cô có phát biểu: “Tôi là một sinh vật mà thơ toát ra từ lỗ chân lông”. Bà Ba Hợi nghe thế trố mắt bình phẩm: “Ghê quá nhỉ, lỗ chân lông toát ra thơ thì còn hơn hôi nách”.
Nhưng cô Linh Lan chỉ tỉnh bơ gào thơ được đúng một tháng rưỡi, vì bà Ba Hợi ra tay. Hôm đó, khi cô sửa soạn bước ra ban công thì bà Ba Hợi lên gõ cửa. Bà cầm theo chai rượu đế một lít, đặt ịch chai rượu lên bàn, bà bảo: “Chị nói cho em hay, chị đây cả đời chỉ cơm nóng canh sốt, không biết thơ thẩn là gì. Nhưng chị biết uống rượu. Uống không kém ông văn bà thơ nào đâu. Tản Đà sống lại cũng chỉ bằng chị là cùng. Thôi, hôm nay em nghỉ ngâm thơ một bữa uống rượu với chị. Mà này, chị bảo cho mà biết, yếu tố hàng đầu của tinh thần tự do là biết tôn trọng sự tự do của người khác. Đâu phải cứ nứng rồi muốn làm gì thì làm...”. Bà còn hùng biện một thôi một hồi. Cô Linh Lan im như thóc. Rồi hai người làm cạn chai rượu. Từ đó trở đi, cô Linh Lan không còn duy trì thói quen của mình nữa.
Ở lô nhà giữa, nguyên lầu một là cơ sở của sở Văn Nghệ thành phố, họ dùng nơi này làm nhà khách. Thỉnh thoảng các đoàn văn công phía Bắc vào lưu diễn thường nghỉ ở đây. Có lần, đoàn Tuồng Hương Phố Hà Nội vào biểu diễn và cũng về đây nghỉ. Hôm đoàn tới, bà Ba Hợi đứng giữa sân chung cư, một tay bà chống nạnh, tay kia bà đưa lêm mồm, dùng ngón cái và ngón trỏ quẹt mép (bà ăn trầu thuốc), rồi bà trịnh trọng nói rõ to: “Đ. mẹ cái thằng Tuồng...”, quẹt mép cái nữa rồi bà nói nốt: “... Hương Phố”. Lúc ấy, đầy đủ lệ bộ đoàn Tuồng Hương Phố, cả diễn viên, lãnh đạo, hậu đài..., đang đứng trên ban công lầu một ngắm trời trông đất. Anh chị em diễn viên, nhiều người mới không hiểu chuyện gì, cứ trố hết cả mắt. Chỉ có mấy vị lãnh đạo là sượng sùng đi hết vào trong.
Sau này, có lần chị Linh Lan kể với tôi, rằng hôm chị và bà Ba Hợi chơi hết lít rượu đế, bà có tâm sự, trước đây bà Ba Hợi bị một vị lãnh đạo nào đó của đoàn Tuồng hay cấp chỉ đạo trực tiếp của đoàn Tuồng... lừa tình. Kết quả cuộc tình là đứa con trai nay đã hy sinh. Khi đó, vì một âm mưu đấu đá mà ban lãnh đạo đoàn tuồng kiên quyết bắt bà Ba Hợi khai ra người cha của đứa bé (thời trước, chửa hoang là chuyện lớn). Kiểm điểm kiểm thảo lên xuống, bà nhất quyết không nói ra tên người kia. Cuối cùng, bà bảo với mấy vị lãnh đạo thế này: “Em chửa hoang công khai, em có con công khai, thế là đủ. Em không cần người ta làm chồng, con em không cần người ta làm cha..., vậy các bác cần gì người ta? Cần cái con b. người ta à?”
Có lẽ bà Ba Hợi phải biến xới khỏi đoàn Tuồng chính vì chuyện này.
*
Khi ủy ban phường quyết định biến cái công viên nho nhỏ của chung cư N. thành bãi giữ xe, những tưởng ông Tư Râu sẽ mất đi cánh đồng thơ mộng cũng như mất đi cái thú vui đặc biệt của ông. Nhưng không, dù cho cỏ xanh, hoa mướt đã biến thành bê tông, ông Tư Râu vẫn không chịu từ bỏ ý thích của mình. Nhưng khốn cho ông, dù đi vào tầm hai, ba giờ sáng ông vẫn bị người ta bắt gặp, vì nơi đây là trung tâm, quanh đó nhà hàng vũ trường nhiều nên người ta mang cả xe sang gửi nhờ. Bởi thế nên hai, ba giờ sáng cũng không còn là giờ an toàn.
Vào một buổi sáng, người dân ở chung cư N. thấy trên tấm bảng của chung cư một dòng thông báo, chữ viết rất ngay ngắn: “Tác giả của những bãi cứt khiến lâu nay bà con tổ dân phố ta được nghe chương trình ca nhạc buổi sáng do bà Ba Hợi biểu diễn chính là ông Tư Râu. Ông Tư Râu ỉa bậy”.
Sau khi dòng chữ xuất hiện, bà Ba Hợi dành hẳn ba ngày chuyên đề, chửi đích danh Tư Râu.
Ông Tư Râu tức tím mặt nhưng không dám phản ứng gì.
Ông Tư Râu biết ai viết dòng chữ đó. Vì chính người này bắt quả tang ông hành sự. Ông nghiến răng ken két: “Mẹ cha bọn thi sỹ văn sỹ văn nghệ văn gừng. Đểu! Đểu thật! Rồi chúng nó sẽ biết tay ông”, rồi ông hạ giọng xuống như ta thán: “Cứ như người ta, bắt quả tang thì hô hoán lên, mình kéo quần là xong. Mình biết, nó biết là cùng. Nó chơi công khai thế này thì... có chết mình không”.
Một buổi tối, ông Tư Râu gọi tôi sang, ông trịnh trọng lôi ra mấy lon bia 333 mời tôi, ông bảo ăn mừng. Ông kể: “Thế là tớ trả thù được hai con quỉ cái. Một già, một nhơ nhỡ”. “Ai thế, mà ông trả thù thế nào, về chuyện gì?”, tôi hỏi. “Con Ba Hợi quỉ già. Con Linh Lan quỉ nhỡ. Mà chú chóng quên, tớ trả thù chúng nó cái vụ bêu riếu tớ... đi ỉa đó”. Rồi ông hạ giọng thì thào: “Tớ lấy phân tớ, nhét vào lỗ khóa cửa nhà hai đứa chúng nó. Thể nào tra chìa mở cửa xong, đút chìa khóa vào đâu đó, rồi cứ thấy mùi cứt thoang thoảng trong nhà mà không biết ở đâu. Ha... ha... ha”. Ông Tư Râu cười rung rinh chòm râu và mái tóc đã ngả muối tiêu.
*
Chai rượu thuốc đã vơi đi quá nửa. Sự buồn bã của ông Tư Râu khiến cuộc rượu không được hứng khởi. Tôi hỏi ông Tư Râu về lí do vắng mặt hai con Hồng Két Trái Tim và Kim Thơm Đài Loan. Ông cho biết, một lần, ông sơ ý để rơi gói thuốc lào vào trong bể mà không biết, đến khi hai con kia chết trương phềnh ông mới phát hiện ra. Con Chột vì có sức đề kháng của loài cá hoang nên không hề hấn gì. Rồi ông chép miệng: “Từ khi về nơi mới, hàng xóm tứ tán, cảnh quan lạ lẫm. Đâm chán, cũng chả thiết ngó ngàng tới cá mú. Bởi thế nên mới ra nông nỗi”. Ngồi một lát, ông nói tiếp: “Có hôm buồn tình, tớ nhẩy xe buýt vào trung tâm, rồi thả bộ lòng vòng, thế nào mà chân nó lại đưa về cái chung cư ấy chú ạ. Nhưng chả còn gì. Chả gặp ai quen. Khách sạn sắp xong rồi. To lắm”.
*
Bẵng đi chừng nửa năm, chợt một hôm ông Tư Râu thất thểu ghé cơ quan tôi. Mới sáu tháng mà như cả chục năm, trong ông giàâ sọm đi, đôi mắt ngơ ngác thất thần. Tôi vội kéo ông sang quán café kế bên cơ quan. Hỏi dăm ba câu chuyện xã giao linh tinh, ông chỉ ậm ừ. Rồi đột nhiên, ông nói với vẻ thẫn thờ, nhịp nhát gừng: “Bà Ba Hợi ấy... chú nhớ không? Bà ấy chết rồi. Chết trong nhà... cả tuần lễ hàng xóm mới phát hiện. Tôi cũng không biết mà đi đưa đám... khốn thế. Hôm nay... tôi đi thăm mộ bà ấy, tiện thể ghé thăm chú”. “Thế làm sao ông biết bà ấy chết? Ai báo?” “Thì thi thoảng, tôi vẫn ghé thăm mọi người, từ khi giải tỏa chung cư. Chú A, bác C, cô Linh Lan, bà Ba Hợi... Tôi tới thăm bà ấy đâu được hai, ba lần. Hôm trước ghé mới biết”. Một lúc sau, khá lâu, mặt ông bỗng giãn ra, ông nói tiếp: “Cái nhà cô Linh Lan ấy, có con rồi đấy. Con trai, kháu lắm. Rõ khổ, đàn bà thơ văn chập cheng nên muộn chồng. Cũng may, lấy anh cu này cũng tốt người tốt nết, nghe đâu buôn lòng bò. Đám cưới được hai tháng thì đẻ. Hồi cô ấy đẻ, tôi, cả bà Ba Hợi tới thăm thường xuyên. Cũng vui!”.
Ngồi một lát, ông Tư Râu cáo từ. Tôi bảo để tôi lấy xe đưa ông về nhưng ông từ chối.
Ra tới cửa quán, ông bỗng quay lại nói: “Con Chột chết rồi chú ạ. Từ khi hai con kia chết, nó chẳng chịu ăn. Thế rồi chết. Chả hiểu là bệnh gì”.
Nói rồi ông quay đi ngay, nhưng tôi kịp nhìn thấy trong cặp mắt già nua ấy ầng ậng nước và một nỗi trống vắng.

