Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: Tiêu chí gắn với nguồn lực, mục tiêu gắn với khả năng thực thi
Với các địa phương khó khăn, đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số, miền núi, nếu áp dụng mức đối ứng cao một cách cứng nhắc sẽ gây áp lực lớn, làm giảm tính khả thi của Chương trình mục tiêu quốc gia. Vì vậy, đại biểu Quốc hội đề nghị điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn theo hướng phân tầng, tiêu chí gắn với nguồn lực, mục tiêu gắn với khả năng thực thi.

Giao quyền chủ động mạnh hơn cho địa phương
ĐBQH Lê Thị Thanh Lam (Cần Thơ) cho biết, qua báo cáo của Chính phủ, có thể thấy kết quả thực hiện 3 chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn từ năm 2021 đến nay có sự khác biệt đáng kể. Chương trình xây dựng nông thôn mới hoàn thành 7/7 chỉ tiêu, đều đạt và vượt mục tiêu đề ra. Chương trình giảm nghèo bền vững đạt 4/5 chỉ tiêu. Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chỉ đạt 6/9 chỉ tiêu, vẫn còn 3 chỉ tiêu chưa hoàn thành. Báo cáo đã chỉ rõ các nhóm mục tiêu còn hạn chế, bao gồm cải thiện hạ tầng xã hội, đưa thôn bản ra khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn và công tác tuyên truyền.

Từ tổng hợp chung, theo đại biểu, có thể thấy rõ những “điểm nghẽn” về cơ chế, chính sách: hệ thống hướng dẫn triển khai còn phức tạp, ban hành chậm; nhiều nội dung, đối tượng đầu tư chồng chéo; nguồn lực phân tán, nhiệm vụ trùng lặp, tạo ra nhiều khó khăn trong tổ chức thực hiện.
Nêu thực tế tại địa phương, đại biểu Lê Thị Thanh Lam cho biết, tỷ lệ vốn đối ứng của địa phương lên tới 1,5 lần vốn trung ương, trong khi các dự án thành phần nhỏ lẻ, manh mún, khó tập trung nguồn lực. Vì vậy, đại biểu tán thành với đề xuất giao mạnh hơn quyền chủ động cho địa phương trong giai đoạn 2026-2035.
Điểm a, khoản 1, Điều 1 dự thảo Nghị quyết về mục tiêu tổng quát của Chương trình đã xác định rõ định hướng phát triển kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn sinh thái, gắn với tái cơ cấu nông nghiệp, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, theo đại biểu Lê Thị Thanh Lam, khi so với hệ thống mục tiêu cụ thể, các chỉ tiêu hiện hành chủ yếu tập trung vào thu nhập, giảm nghèo và hạ tầng; chưa phản ánh rõ chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung vào nhóm mục tiêu số 5 các chỉ tiêu trung gian như: tỷ lệ hợp tác xã, tổ hợp tác ứng dụng công nghệ số; tỷ lệ sản phẩm nông nghiệp OCOP được số hóa, truy xuất nguồn gốc… nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026-2030.
Về nguồn lực và cơ chế đối ứng, giai đoạn 2026-2030 dự kiến tổng mức vốn của chương trình là 1,23 triệu tỷ đồng, trong đó ngân sách địa phương chiếm 33%. Đánh giá cơ cấu này thể hiện tinh thần phân cấp và tăng tính chủ động của địa phương, song đại biểu Lê Thị Thanh Lam cũng băn khoăn đối với các địa phương khó khăn, đặc biệt là các địa phương vùng dân tộc thiểu số, miền núi khả năng cân đối ngân sách còn hạn chế. Nếu áp dụng mức đối ứng cao một cách cứng nhắc sẽ gây áp lực lớn, làm giảm tính khả thi, dễ dẫn tới triển khai hình thức, không đạt mục tiêu đề ra.
Do vậy, đại biểu Lê Thị Thanh Lam kiến nghị Bộ tiêu chí nông thôn mới và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2026 - 2030 cần được thiết kế theo hướng đánh giá thực chất, linh hoạt theo vùng miền: giảm tỷ trọng các tiêu chí hình thức, tăng tỷ trọng các tiêu chí về sinh kế, dịch vụ cơ bản, giảm nghèo đa chiều; bổ sung tiêu chí về công khai, minh bạch, sự tham gia của người dân và chuyển đổi số ở cấp xã.
Từ đó điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn theo hướng phân tầng: Địa phương có khả năng tự cân đối thực hiện đối ứng theo chuẩn chung; địa phương khó khăn giảm tỷ lệ đối ứng, tăng hỗ trợ từ ngân sách trung ương; địa phương đặc biệt khó khăn áp dụng mức hỗ trợ cao hơn. Cách tiếp cận này sẽ giúp cho tiêu chí gắn với nguồn lực, mục tiêu gắn với khả năng thực thi, qua đó nâng cao hiệu quả và tính bền vững của chương trình trong thực hiện trong thời gian tới sẽ tốt hơn.
Đại biểu Lê Thị Thanh Lam cũng đề nghị cân nhắc phân bổ nguồn lực hài hòa, tăng linh hoạt cho các vùng khó khăn, bảo đảm kế thừa kết quả giai đoạn 2021-2025 và nâng cao hiệu quả cho giai đoạn 2026-2035. Mọi chương trình, chính sách của Chính phủ cuối cùng đều hướng tới nâng cao đời sống người dân; vì vậy, phân cấp, phân quyền rõ ràng, đi liền cơ chế hỗ trợ phù hợp, sẽ quyết định khả năng triển khai thực chất và hiệu quả.
Không yêu cầu lồng ghép nguồn vốn của các Chương trình


Nêu thực tế thời gian vừa qua, tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, gây mưa lớn, lũ lụt, sạt lở nghiêm trọng ở các khu vực miền núi, do vậy, ĐBQH Nguyễn Tuấn Anh (Cần Thơ) đề nghị nghiên cứu, bổ sung nội dung trong Chương trình về phương án di dời người dân ở những nơi có nguy cơ sạt lở từ sớm và xây dựng mô hình ổn định đời sống cho người dân được di dời.
Ngoài ra, trong thời gian vừa qua, các chính sách về xóa nhà tạm, nhà dột nát và xây dựng các trường học ở khu vực miền núi đã được triển khai mạnh mẽ trên phạm vi cả nước. Do vậy, đại biểu đề nghị cung cấp các số liệu cụ thể về tình hình thực hiện các chính sách này, đặc biệt ở khu vực miền núi, từ đó xây dựng dự toán cho việc tổ chức thực hiện các nội dung phù hợp, sát với thực tế và hiệu quả hơn.
Đại biểu Nguyễn Tuấn Anh cũng đề nghị nghiên cứu, bổ sung nội dung chi tiết về hợp tác quốc tế, cơ chế, chính sách thu hút các nguồn tài trợ, dự án đầu tư nước ngoài cho xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để cụ thể hóa chủ trương Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, nhất là hợp tác quốc tế trong đầu tư, xây dựng hạ tầng và dịch vụ cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, phát triển các mô hình phát triển kinh tế cộng đồng, sản phẩm OCOP, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc...

Đối với các nội dung liên quan đến ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đại biểu Nguyễn Tuấn Anh đề nghị cần có đánh giá về hiện trạng ứng dụng công nghệ thông tin, tin học hóa trong việc tổ chức thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia liên quan để điều chỉnh các chỉ tiêu, nhiệm vụ, hoạt động ưu tiên trong giai đoạn 2026 - 2035 phù hợp với năng lực và chất lượng của nguồn nhân lực cũng như thực trạng của các cơ quan, đơn vị, địa phương với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay.

