Chính sách tín dụng phải dẫn dắt nông nghiệp chuyển đổi số, xanh
Tại hội thảo “Hoàn thiện chính sách tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh” do Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức chiều 24/4, các đại biểu cho rằng, tín dụng phải đi trước một bước và định hướng dòng vốn vào các mô hình sản xuất mới.

Phát biểu khai mạc, Tổng biên tập Báo ĐBND Phạm Thị Thanh Huyền nhấn mạnh: Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định rất rõ: “Hoàn thiện thể chế phát triển, khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực là một trong những đột phá chiến lược, tạo động lực cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới”.
Trong tổng thể đó, nông nghiệp - nông dân - nông thôn tiếp tục được xác định là trụ đỡ của nền kinh tế; đồng thời, chuyển đổi sang nông nghiệp số, nông nghiệp xanh không chỉ là xu thế, mà là yêu cầu tất yếu để nâng cao giá trị gia tăng, bảo đảm phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy một nghịch lý, nhu cầu vốn cho chuyển đổi rất lớn nhưng dòng tín dụng vẫn chưa thực sự “chảy đúng, chảy trúng và chảy đủ” vào các mô hình nông nghiệp số, nông nghiệp xanh. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện chính sách tín dụng - không chỉ dừng ở vai trò hỗ trợ, mà phải trở thành công cụ dẫn dắt quá trình chuyển đổi.
"Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh: Phát triển phải dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phải khơi thông mọi nguồn lực trong xã hội, đặc biệt là nguồn lực tài chính, để phục vụ cho các lĩnh vực ưu tiên chiến lược. Và quan trọng hơn, thể chế phải đi trước một bước, tạo hành lang cho đổi mới.

Tinh thần đó đặt ra một yêu cầu rất rõ đối với chính sách tín dụng: Không chỉ bảo đảm an toàn hệ thống, mà còn phải chấp nhận, quản trị và phân bổ rủi ro một cách thông minh để thúc đẩy các mô hình mới", Tổng Biên tập Phạm Thị Thanh Huyền nhấn mạnh.
Tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh trong bối cảnh mới
Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi Nguyễn Quang Huy cho biết, hiện ngành nông nghiệp chiếm 23 - 25% tổng dư nợ của nền kinh tế.
Thống kê năm 2025, tổng dư nợ nền kinh tế nước ta đạt 18 triệu tỷ đồng; trong đó, dư nợ tín dụng nông nghiệp chiếm hơn 4 triệu tỷ đồng và phần lớn khoản vay phải có tài sản bảo đảm. Dư nợ tín dụng xanh thời tính đến thời điểm 31/12/2015 khoảng 780.000 - 850.000 tỷ đồng, trong đó có hơn 3% tín dụng xanh trong ngành nông nghiệp, nông sản, thủy sản.

Ông "rất ghi nhận nỗ lực của Chính phủ" năm 2025 đã ban hành Quyết định 21/2025/QĐ-TTg quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh.
Tuy vậy, việc triển khai tín dụng xanh trong lĩnh vực nông nghiệp hiện vẫn thiếu đồng bộ do chưa có bộ tiêu chí chung. "Việc mỗi ngân hàng có chuẩn xanh khác nhau, khiến cho quá trình tiếp cận tín dụng thiếu đồng bộ, nhất quán, gây khó khăn cho doanh nghiệp tiếp cận ngân hàng", ông Nguyễn Quang Huy chỉ rõ.
Cũng theo ông Huy, mô hình tín dụng hiện nay còn nhiều “nút thắt”, cản trở sự bứt phá của ngành. Cụ thể, việc cấp vốn vẫn chủ yếu dựa vào tài sản thế chấp; quy mô tín dụng nhỏ lẻ, phân tán.
Đối với nông dân và hợp tác xã ở vùng sâu, vùng xa, vẫn tồn tại “nỗi sợ vô hình” đối với chuyển đổi số, một rào cản về tâm lý khiến quá trình này diễn ra chậm chạp. Ở đầu ra, dòng vốn bị phân mảnh, hiệu quả thấp. Ngoài ra, chúng ta cũng đối mặt với rào cản về dữ liệu; hiện nền tảng dữ liệu (Data) đang khuyết thiếu, rời rạc và thiếu cập nhật liên tục.

Chia sẻ tầm nhìn chiến lược hệ sinh thái tín dụng nông nghiệp, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi cho rằng, phải tái thiết toàn bộ hệ sinh thái nông nghiệp bao gồm dòng vốn, dữ liệu và công nghệ, liên kết thể chế.
Trong đó, dòng vốn cần tư duy làm sao thay đổi cách nghĩ cách làm chuyển từ cấp vốn đơn lẻ sang cấp vốn theo chuỗi giá trị.
Về dữ liệu công nghệ, cần từng bước thử nghiệm, thí điểm, xây dựng hạ tầng dữ liệu cho hệ sinh thái nông nghiệp số. Khi số hóa, cập nhật liên tục sẽ có dòng chảy thông tin liên kết với cổng thông tin quốc gia cũng như các tổ chức tín dụng, giúp ngân hàng có đầy đủ thông tin.
Về liên kết thể chế cần gắn bó chặt chẽ giữa Nhà nước, ngân hàng, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ nông dân.

Cũng theo ông Huy, Ngân hàng Nhà nước cần đưa ra các chuẩn mực xanh trong quá trình cấp tín dụng, tránh mỗi ngân hàng thương mại có chuẩn khác nhau; đồng thời đưa ra hỗ trợ về tái cấp vốn, ưu đãi lãi suất, hạn mức (room) tín dụng với tổ chức tín dụng tích cực trong hoạt động tín dụng xanh. Về phía các ngân hàng thương mại, cần căn cứ vào chính sách của Ngân hàng Nhà nước để đưa ra bộ tiêu chí xanh phù hợp. Đối với HTX, người nông dân, cần hiểu, làm đúng, làm đủ theo cam kết.
Agribank thúc đẩy tài chính toàn diện tại nông thôn
Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng, Ngân hàng Agribank Nguyễn Quang Ngọc cho biết, tài chính toàn diện là cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản (thanh toán, tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm) đến mọi người dân, đặc biệt là nhóm yếu thế, với chi phí hợp lý. Tài chính toàn diện hiện nay gắn chặt với tăng trưởng xanh, định hướng vốn vào các mô hình sản xuất hiệu quả và giảm phát thải.
Theo ông Ngọc, nếu trước đây câu hỏi đặt ra cho ngân hàng là “làm sao để người dân vay được vốn”, thì hiện nay, câu hỏi quan trọng hơn là “làm sao để người dân sử dụng vốn hiệu quả, thoát nghèo và làm giàu bền vững”. Từ cách tiếp cận đó, Agribank đang thúc đẩy tài chính toàn diện tại khu vực nông thôn thông qua bốn trụ cột chính.
.jpg)
Thứ nhất, xây dựng “hệ sinh thái tiếp cận” rộng khắp, từng bước xóa bỏ rào cản địa lý. Agribank duy trì mạng lưới hiện diện trên toàn quốc, từ vùng biên giới đến hải đảo. Đồng thời, ngân hàng triển khai 68 điểm giao dịch lưu động bằng ô tô chuyên dùng tại 474 xã, giúp người dân vùng sâu, vùng xa tiếp cận dịch vụ tài chính thuận tiện hơn, giảm chi phí và thời gian đi lại.
Cùng với đó, Agribank không ngừng đơn giản hóa thủ tục, đổi mới phương thức cho vay, phối hợp với chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ để phát triển hơn 60.000 tổ vay vốn với gần 1 triệu thành viên, tạo “cánh tay nối dài” từ cộng đồng.
Thứ hai, đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng sát nhu cầu thực tế. Agribank thiết kế các gói tín dụng phù hợp với đặc thù sản xuất nông nghiệp, như cho vay hạn mức nhỏ, cho vay lưu vụ theo chu kỳ cây trồng, vật nuôi và mùa vụ từng vùng. Ngân hàng cũng triển khai hiệu quả 7 chương trình tín dụng chính sách, trong đó có hai chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

Đáng chú ý, Agribank tiên phong dẫn dắt dòng vốn xanh thông qua các gói tín dụng ưu đãi cho nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao quy mô khoảng 50.000 tỷ đồng, đồng thời tham gia các chương trình lớn như Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao tại Đồng bằng sông Cửu Long, góp phần nâng cao giá trị sản xuất gắn với bảo vệ môi trường.
Thứ ba, tối ưu hóa chi phí và đơn giản hóa thủ tục, nâng cao khả năng tiếp cận tài chính. Agribank triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi với lãi suất cạnh tranh, phù hợp khả năng chi trả của người dân. Đồng thời, ngân hàng đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển dần từ mô hình cho vay dựa trên tài sản thế chấp sang đánh giá dòng tiền và hiệu quả phương án sản xuất. Song song đó, Agribank phối hợp với các đơn vị bảo hiểm để cung cấp giải pháp phòng ngừa rủi ro thiên tai, dịch bệnh, góp phần bảo đảm an toàn cho dòng vốn.
Thứ tư, thúc đẩy chuyển đổi số, đưa tài chính toàn diện bước vào giai đoạn phát triển mới. Agribank xác định công nghệ là công cụ then chốt, tập trung số hóa quy trình cho vay, phát triển ngân hàng điện tử, qua đó nâng cao tốc độ, tính minh bạch và khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho người dân.

Tín dụng theo chuỗi giá trị là xu hướng tất yếu
Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Công ty Cổ phần Nhật Long Nguyễn Văn Long cho rằng, dưới góc độ doanh nghiệp, lợi chia sẻ, ích lớn nhất của tín dụng theo chuỗi giá trị là khả năng tiếp cận nguồn vốn ổn định và linh hoạt hơn.
Để phát huy hiệu quả của tín dụng theo chuỗi giá trị nông nghiệp, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều bên.
Trước hết, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính và xây dựng chuỗi liên kết bền vững, đồng thời ứng dụng công nghệ số trong quản lý, truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường.
.jpg)
Về phía Nhà nước, cần hoàn thiện khung pháp lý để ngân hàng có cơ sở đánh giá dòng tiền, giảm phụ thuộc vào tài sản thế chấp và có cơ chế hỗ trợ rủi ro cho các mô hình liên kết. Các tổ chức tín dụng cũng cần đổi mới phương thức thẩm định, thiết kế sản phẩm tín dụng phù hợp với đặc thù nông nghiệp.
“Tín dụng theo chuỗi giá trị là xu hướng tất yếu. Với doanh nghiệp, đây vừa là cơ hội để nâng cao giá trị gia tăng, vừa là thách thức đòi hỏi sự chuyên nghiệp và trách nhiệm cao hơn”, ông Long nhìn nhận.
Với nông dân, bảo hiểm như “phao cứu sinh”
Phó Tổng giám đốc Công ty Bảo hiểm Agribank Lê Đình Huy nhấn mạnh, bảo hiểm không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn đóng vai trò “màng lọc” và “bệ đỡ” đối với tín dụng nông nghiệp, đặc biệt trong quá trình chuyển sang nông nghiệp số và nông nghiệp xanh.
Theo ông Huy, với Nhà nước, bảo hiểm giúp giảm áp lực ngân sách thông qua việc chuyển giao rủi ro sang thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm quốc tế. Thay vì chi nguồn lực lớn cho cứu trợ sau thiên tai, Nhà nước có thể chủ động hỗ trợ phí bảo hiểm, qua đó tạo cơ chế tài chính bền vững cho khu vực nông thôn. Đồng thời, bảo hiểm còn góp phần bảo vệ an ninh tài chính, hạn chế nợ xấu và ổn định hệ thống tín dụng.

Với nông dân, bảo hiểm được ví như “phao cứu sinh” giúp giảm thiểu rủi ro tài chính sau thiên tai, dịch bệnh. Nhờ đó, người sản xuất có thể duy trì dòng tiền để tái đầu tư, thay vì phụ thuộc vào hỗ trợ từ ngân sách. Việc tham gia bảo hiểm cũng tạo động lực để nông dân tuân thủ quy trình sản xuất, từng bước tiếp cận các tiêu chuẩn của nông nghiệp số và nông nghiệp xanh.
Đối với các tổ chức tín dụng, bảo hiểm giúp gia tăng độ an toàn cho khoản vay, có thể thay thế một phần vai trò của tài sản bảo đảm. Khi khoản vay được bảo hiểm, ngân hàng có thêm cơ sở để giải ngân, kể cả trong trường hợp khách hàng thiếu tài sản thế chấp. Đồng thời, quá trình định phí cũng phản ánh mức độ minh bạch của sản xuất, hỗ trợ hiệu quả cho việc thẩm định.
Ở cấp độ chuỗi giá trị, bảo hiểm đóng vai trò “bộ giảm xóc”, giúp duy trì sự liên tục của chuỗi cung ứng. Khi rủi ro xảy ra, người sản xuất vẫn có điều kiện phục hồi, bảo đảm nguồn nguyên liệu cho doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Đồng thời, các tiêu chuẩn đi kèm bảo hiểm cũng góp phần nâng cao chất lượng sản xuất, hướng tới nông nghiệp xanh và bền vững.

Lãnh đạo ABIC đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy bảo hiểm nông nghiệp gắn với tín dụng, qua đó hỗ trợ chuyển đổi sang nông nghiệp số và nông nghiệp xanh.
Trước hết cần hoàn thiện khung pháp lý để phát triển các kênh phân phối bảo hiểm trong khu vực “tam nông”, đặc biệt là qua ngân hàng và tổ chức tín dụng. Việc thực thi Luật Các tổ chức tín dụng 2024 cần có hướng dẫn linh hoạt, tránh áp dụng cứng nhắc quy định cấm gắn bán bảo hiểm, đồng thời cho phép tích hợp bảo hiểm vào gói tín dụng như một giải pháp bảo đảm an toàn vốn.
Cùng với đó, chính sách bảo hiểm nông nghiệp cần được điều chỉnh theo hướng tăng mức hỗ trợ. ABIC đề xuất Nhà nước hỗ trợ 70 - 80% phí bảo hiểm trong 5 năm đầu cho nông dân, hợp tác xã và các tổ chức sản xuất, nhằm tạo thói quen tham gia và củng cố niềm tin. Đồng thời, cần chuyển từ cơ chế quy định mức hỗ trợ tối đa sang mức tối thiểu, bảo đảm cam kết lâu dài của ngân sách.

Một điểm đáng chú ý là cần thay đổi cách tiếp cận, từ coi bảo hiểm là chính sách an sinh sang công cụ quản trị rủi ro trong chuỗi giá trị. Theo đó, Nhà nước có thể đóng vai trò “người bảo hiểm cuối cùng” thông qua việc nghiên cứu thành lập Quỹ tái bảo hiểm thảm họa quốc gia.
Hội thảo "hết sức có ý nghĩa"
Phát biểu bế mạc, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Tạ Đình Thi hoan nghênh và đánh giá cao Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức hội thảo.
"Đây là diễn đàn hết sức có ý nghĩa, giúp hoàn thiện các chính sách có liên quan, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân", ông nhấn mạnh.

Kết quả thảo luận tại hội thảo cho thấy có 5 vấn đề tập trung và đạt được sự thống nhất cao.
Thứ nhất, về vai trò của tín dụng, đây không chỉ là công cụ hỗ trợ mà phải là công cụ dẫn dắt cho quá trình chuyển đổi số và xanh trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Các đại biểu thống nhất là tín dụng phải đi trước một bước và định hướng cho các dòng vốn vào các mô hình phát triển nông nghiệp, nông thôn, những mô hình canh tác mới thay vì cách làm truyền thống.
Thứ hai, chúng ta đã nhận diện những nút thắt, điểm nghẽn về cơ chế, chính sách đối với việc chuyển đổi số và xanh. Trong đó, về cơ chế tài sản bảo đảm, theo phản ánh của doanh nghiệp, đất thuê trả tiền hàng năm không thể làm tài sản thế chấp. Phía ngân hàng cho biết, vẫn có những cách tiếp cận linh hoạt, dựa trên nhiều tiêu chí khác chứ không chỉ dựa vào đất. Trong một bài toán tổng thể như vậy, đối với việc chuyển đổi sang nông nghiệp số và xanh, chúng ta cần tính toán để khơi thông các dòng vốn tín dụng chảy vào lĩnh vực này.

Một vấn đề nữa là thiếu cơ chế để chia sẻ rủi ro. Nông nghiệp số và xanh có mức độ rủi ro rất cao. Ngay trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung, mức độ tổn thương cũng rất lớn do thời tiết, biến đổi khí hậu; người nông dân cũng là đối tượng chịu tổn thương rất lớn. Do đó, cần có những cơ chế bảo lãnh tín dụng, quỹ bảo hiểm và được Nhà nước hỗ trợ. Như vậy mới bảo đảm cho người nông dân dám đầu tư, ngân hàng dám cho vay, và cơ quan bảo hiểm mạnh dạn tham gia quá trình này.
Thứ ba, rào cản trong tiếp cận vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hợp tác xã - đây là vấn đề không đơn giản, phụ thuộc vào quy mô, trình độ quản trị… Chúng tôi cho rằng cần có chính sách hỗ trợ phù hợp. Song Nhà nước hỗ trợ ở mức độ nào cũng là vấn đề đặt ra.
Liên quan đến giải pháp tín dụng theo chuỗi giá trị, đây là hướng đi đúng và có hiệu quả. Trên thực tế, Agribank đã triển khai và ghi nhận các kết quả rất tích cực. Các đại biểu gợi ý rằng cần phải hình thành chuỗi liên kết vốn và cần có sự chuẩn hóa để làm căn cứ cho dòng vốn tín dụng.
.jpg)
Thứ tư là vai trò của bảo hiểm. Chúng tôi cho rằng đây không chỉ là “tấm lưới an toàn” cho người nông dân mà còn là điều kiện để ngân hàng tiếp tục mở rộng hạn mức tín dụng. Các diễn giả cũng khẳng định cần thiết kế các sản phẩm bảo hiểm gắn với các gói tín dụng xanh và số, đồng thời có cơ chế tái bảo hiểm, hỗ trợ chi phí từ ngân sách cho các lĩnh vực rủi ro cao, có tác động lớn đến môi trường hay biến đổi khí hậu.
Thứ năm, vấn đề mang tính bao trùm là chính sách gì, động lực gì để thúc đẩy tín dụng cho nông nghiệp số và xanh? Chúng tôi đề nghị phía Chính phủ và các cơ quan cần quan tâm rà soát và kiến nghị xây dựng chính sách cụ thể, ở cấp nào thì xử lý ở cấp đó.
Tại hội thảo, các đại biểu đã rất tâm huyết trao đổi về việc triển khai các mục tiêu Đại hội XIV đã đặt ra. Quốc hội cũng đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030, thống nhất thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số. Để cụ thể hóa, hướng đi nông nghiệp số, nông nghiệp xanh đã được khẳng định rõ. Cần xây dựng bộ tiêu chí để ngân hàng có căn cứ ưu đãi lãi suất, thời hạn cho vay, cũng như cơ sở pháp lý về tài sản bảo đảm. Bên cạnh đó, các chính sách về đất đai, khoa học - công nghệ, khuyến nông, tín dụng cần có sự liên kết, hỗ trợ đồng bộ, hiệu quả.
Có thể nói, tín dụng là xương sống của thể chế phát triển nông nghiệp số và xanh. Muốn cho dòng tín dụng chảy, phải tháo gỡ một cách đồng bộ từ tất cả các khía cạnh các đại biểu đã nêu ở trên.

