Chỉ thị của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm công tác đối ngoại nhân dân
Thay mặt Ban Bí thư, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú ký ban hành Chỉ thị về đẩy mạnh và nâng tầm công tác đối ngoại nhân dân (Chỉ thị số 16-CT/TW, ngày 2/11/2026).

Chỉ thị số 16-CT/TW nêu: Sau gần 5 năm thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 05/01/2022 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả đối ngoại nhân dân trong tình hình mới, công tác đối ngoại nhân dân đã đạt được những kết quả tích cực; góp phần thúc đẩy, mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước; nâng cao vai trò và vị thế của Việt Nam tại các cơ chế, diễn đàn nhân dân khu vực và quốc tế; huy động nguồn lực phục vụ phát triển đất nước.
Tuy nhiên, công tác đối ngoại nhân dân còn một số hạn chế, bất cập. Nhận thức về vị trí, vai trò chiến lược của đối ngoại nhân dân chưa đầy đủ, sâu sắc. Phương thức, biện pháp triển khai thực hiện chậm được đổi mới. Việc vận động nhân dân các nước ủng hộ Việt Nam đối với một số vấn đề quan trọng chưa có đột phá. Công tác phối hợp chưa chặt chẽ; nguồn lực còn phân tán, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân.
Nhiệm vụ, giải pháp
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, đặc biệt là trước yêu cầu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng và các chủ trương, chiến lược về phát triển đất nước đòi hỏi phải đẩy mạnh và nâng tầm công tác đối ngoại nhân dân, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội quán triệt, thực hiện tốt các nội dung sau:
1. Tiếp tục quán triệt sâu sắc, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức về vị trí, vai trò chiến lược của đối ngoại nhân dân là một trong ba trụ cột đối ngoại, cùng với đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp. Công tác đối ngoại nhân dân là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó các tổ chức nhân dân, người dân, doanh nghiệp, doanh nhân, trí thức, văn nghệ sỹ, người Việt Nam ở nước ngoài… là trung tâm, là chủ thể và là lực lượng trực tiếp thực hiện.
Đối ngoại nhân dân góp phần quan trọng phát huy trí tuệ, bản sắc văn hóa và truyền thống nhân văn của dân tộc, huy động nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao vai trò và đóng góp của Việt Nam trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại, phục vụ thiết thực sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
2. Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, quản lý thống nhất của Nhà nước; bảo đảm thống nhất về định hướng, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả giữa các trụ cột đối ngoại. Nâng cao trách nhiệm người đứng đầu. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên (nòng cốt là Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam) và sự tham gia tích cực của người dân và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
3. Đề cao sự chân thành, tin cậy, tôn trọng lẫn nhau trong quan hệ với nhân dân các nước; coi trọng xây dựng lòng tin và quan hệ lâu dài; phát huy quan hệ với bạn bè truyền thống, đồng thời mở rộng, làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, đặc biệt là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác quan trọng. Kiên trì đối thoại, tăng cường hiểu biết, thu hẹp khác biệt, mở rộng đồng thuận. Kết hợp chặt chẽ giữa hợp tác và đấu tranh; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc; kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, phù hợp với đối tác, địa bàn và đặc thù của đối ngoại nhân dân.
4. Duy trì mạng lưới ủng hộ Việt Nam trên toàn cầu; mở rộng mạng lưới bạn bè, đối tác; phát huy lợi thế của đối ngoại nhân dân trong triển khai sức mạnh mềm quốc gia, góp phần củng cố nền tảng xã hội, tạo dựng lòng tin, gắn kết lợi ích, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực phục vụ phát triển nhanh, bền vững, nâng cao đời sống Nhân dân, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác phát triển và tiến bộ xã hội.
5. Đổi mới tư duy triển khai công tác đối ngoại nhân dân. Chuyển đối ngoại nhân dân từ "tham gia" sang "đóng góp, kiến tạo"; từ "giao lưu, hữu nghị, vận động" sang "kết nối, gắn kết lợi ích"; từ "huy động nguồn lực đơn thuần" sang "kết nối tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và các nguồn lực phát triển"; từ "chủ yếu dựa vào lực lượng chuyên trách" sang "phát huy vai trò chủ thể, nguồn lực của Nhân dân và sự tham gia chủ động của các tổ chức xã hội, địa phương, doanh nghiệp, người dân và người Việt Nam ở nước ngoài".
6. Đổi mới mạnh mẽ phương thức triển khai công tác đối ngoại nhân dân; xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, có trọng tâm, trọng điểm, kết hợp nhiệm vụ trước mắt với mục tiêu lâu dài, mở rộng quan hệ kết hợp với nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác. Phát huy vai trò, thế mạnh của đối ngoại nhân dân để xử lý hiệu quả các điểm nghẽn, vấn đề phức tạp tại địa bàn nhạy cảm hoặc những lĩnh vực ngoại giao nhà nước khó tiếp cận.
Xây dựng và thường xuyên cập nhật "bản đồ đối tác" đối ngoại nhân dân theo địa bàn, lĩnh vực và mức độ ưu tiên, làm cơ sở định hướng phát triển mạng lưới bạn bè, đối tác rộng khắp, đa tầng, đa lĩnh vực, có chiều sâu và bền vững. Chú trọng phát hiện, chủ động kết nối, bồi đắp quan hệ với thế hệ trẻ, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sỹ, tổ chức xã hội và những cá nhân có uy tín, ảnh hưởng.

Chủ động đề xuất sáng kiến, tham gia định hình nội dung, chương trình nghị sự tại các cơ chế, diễn đàn nhân dân khu vực và quốc tế; từng bước hình thành các sáng kiến, diễn đàn, mạng lưới hợp tác do Việt Nam khởi xướng hoặc đồng kiến tạo, qua đó nâng cao tiếng nói, vị thế, khả năng tập hợp lực lượng và đóng góp của Việt Nam trong các vấn đề khu vực và quốc tế.
Nâng cao hiệu quả công tác phi chính phủ nước ngoài theo hướng minh bạch, có trọng tâm, gắn với các ưu tiên phát triển; chuyển từ "tiếp nhận thụ động" sang "chủ động định hướng, lựa chọn, theo dõi và đánh giá hiệu quả các chương trình, dự án".
7. Gắn chặt đối ngoại nhân dân với nhiệm vụ phát triển đất nước và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Chú trọng những lĩnh vực như khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, đào tạo, văn hóa, du lịch, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Phát huy thế mạnh của đối ngoại nhân dân trong tiếp cận sâu rộng các nguồn lực xã hội quốc tế; khơi thông nguồn lực, tăng cường đoàn kết, gắn bó và phát huy vai trò cầu nối của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, chuyển hóa thành các chương trình, dự án hiệu quả, thiết thực, phục vụ các đột phá chiến lược của đất nước.
Hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp tiếp cận đối tác, thị trường, tri thức và kinh nghiệm quản trị, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia chuỗi giá trị. Khuyến khích doanh nghiệp đóng góp, tham gia các chương trình hợp tác nhân dân, bảo đảm đúng chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức và hài hoà lợi ích của các bên.
Phát huy hiệu quả ngoại giao văn hóa và phương thức "ngoại giao tâm công"; khai thác hiệu quả di sản văn hóa, giữ gìn bản sắc và lan tỏa các giá trị lịch sử, văn hóa, con người Việt Nam, chuyển hóa các giá trị và uy tín của Việt Nam thành sức hấp dẫn, sự tôn trọng, tin cậy, đồng tình và ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế.
8. Đổi mới, hiện đại hóa phương thức thông tin đối ngoại trên kênh nhân dân theo hướng chủ động, kịp thời, chính xác và thuyết phục. Gắn thông tin đối ngoại với giao lưu nhân dân, hợp tác doanh nghiệp và quảng bá hàng hóa, dịch vụ tiêu biểu, góp phần nâng cao thương hiệu quốc gia.
Giới thiệu thành tựu đổi mới, chuyển tải thông điệp về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; lan tỏa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam giàu bản sắc văn hóa, nghĩa tình, thuỷ chung, nhân văn, trách nhiệm; tạo dựng sự hiểu biết, đồng thuận và tiếng nói khách quan, tích cực về Việt Nam.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, tận dụng không gian mạng và các nền tảng truyền thông mới; đa dạng hoá chủ thể, nội dung và phương thức thông tin phù hợp với từng địa bàn, đối tượng; phát huy vai trò của báo chí, trí thức, chuyên gia, văn nghệ sỹ, người có uy tín, người có ảnh hưởng và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong truyền tải, lan tỏa thông tin và tiếp cận công chúng quốc tế.
Chủ động nhận diện, phản bác, đấu tranh hiệu quả với thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc về Việt Nam, bằng phương thức kịp thời, linh hoạt, mềm dẻo, thuyết phục, bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia-dân tộc, nền tảng tư tưởng của Đảng, hình ảnh, uy tín quốc tế của đất nước; bảo đảm không bị động, bất ngờ trước các vấn đề dư luận phát sinh.
9. Kiện toàn tổ chức bộ máy, cơ chế phối hợp; bảo đảm nguồn lực cho công tác đối ngoại nhân dân tương xứng với thế và lực mới của đất nước và xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác đối ngoại nhân dân có bản lĩnh chính trị vững vàng; có năng lực nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược; giỏi ngoại ngữ, công nghệ; nhạy bén, có khả năng vận động quốc tế và xử lý linh hoạt các vấn đề đối ngoại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Tổ chức thực hiện
Về tổ chức thực hiện, Chỉ thị nêu rõ:
1. Các tỉnh uỷ, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, các ban đảng, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương tổ chức quán triệt, xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Chỉ thị phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao.
2. Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, hoàn thiện pháp luật có liên quan; xem xét, quyết định các vấn đề về nguồn lực và giám sát theo thẩm quyền. Phát huy vai trò của ngoại giao nghị viện, các nhóm nghị sỹ hữu nghị trong phối hợp, hỗ trợ hoạt động đối ngoại nhân dân.
3. Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo thể chế hoá và bảo đảm nguồn lực thực hiện Chỉ thị.
4. Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và các tổ chức nhân dân triển khai thực hiện hiệu quả Chỉ thị; kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị trong các tổ chức thuộc phạm vi phụ trách.
5. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Đảng uỷ Bộ Ngoại giao, Đảng uỷ Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương và các cơ quan liên quan hướng dẫn quán triệt, tuyên truyền thực hiện Chỉ thị.
6. Đảng ủy Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương và các cơ quan liên quan tham mưu, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị, định kỳ báo cáo Ban Bí thư; hướng dẫn thống nhất việc đánh giá kết quả, chế độ thông tin, báo cáo; chỉ đạo các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hỗ trợ hoạt động đối ngoại nhân dân tại địa bàn, phối hợp với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài để thực hiện.
7. Chỉ thị này thay thế Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 5/1/2022 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả đối ngoại nhân dân trong tình hình mới và được phổ biến đến chi bộ.

