Cần làm rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong hoạt động xuất bản
Sáng 5/8, Tổ 15 (gồm Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ, TP. Đà Nẵng) thảo luận ở tổ về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Bổ sung quy định cụ thể hơn về bảo vệ bản quyền trong môi trường AI
Cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản, ĐBQH Thái Quỳnh Mai Dung (Phú Thọ) đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo cần tiếp tục rà soát kỹ lưỡng các quy định liên quan để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với Luật Sở hữu trí tuệ, Luật An ninh mạng, Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Công nghệ thông tin và dự thảo Luật An ninh dữ liệu, dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử đang trong quá trình xây dựng.
Theo đại biểu, các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản cơ bản phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát kỹ lưỡng các điều khoản liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu xuất bản phẩm, cơ chế quản lý các nền tảng phát hành xuyên biên giới, nhằm bảo đảm sự tương thích với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và các cam kết về mở cửa dịch vụ mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.

Đại biểu Thái Quỳnh Mai Dung nhất trí với chủ trương yêu cầu công khai thông tin về sự tham gia của trí tuệ nhân tạo trong xuất bản phẩm quy định tại khoản 5 Điều 27. Tuy nhiên, do dự thảo Luật mới dừng ở nguyên tắc chung, dễ tạo khoảng trống pháp lý bị lợi dụng, đại biểu đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, cụ thể hóa một số nội dung, hoặc giao Chính phủ quy định chi tiết trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế.
Theo đó, về kỹ thuật và định danh, đại biểu đề nghị làm rõ khái niệm nội dung thuộc lĩnh vực này do AI tạo ra, mức độ can thiệp của con người để phân biệt với tác phẩm truyền thống; quy định cụ thể tiêu chí, hình thức và vị trí gắn nhãn nhận diện AI trên từng loại hình xuất bản phẩm.
Về trách nhiệm pháp lý, cần phân định rõ trách nhiệm tương ứng của tác giả, nhà xuất bản, nền tảng phân phối và bên cung cấp công cụ AI trong từng khâu; cơ chế xác lập và bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm đồng sáng tạo người - máy.
Về vận hành và chuyển tiếp, đại biểu đề nghị thiết lập cơ chế kiểm tra, “hậu kiểm” gắn với chế tài xử lý; xác định yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực quản lý; quy định điều khoản chuyển tiếp linh hoạt trước sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Đồng thời, đề nghị rà soát kỹ để bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15, tránh mâu thuẫn khi cùng điều chỉnh đối tượng.
ĐBQH Vương Quốc Thắng (TP. Đà Nẵng) bày tỏ nhất trí với các nội dung giải trình của Chính phủ, tuy nhiên mong muốn dự thảo Luật thể hiện rõ hơn tinh thần về hỗ trợ thúc đẩy chuyển đổi số, coi công nghệ là "hạ tầng tri thức quốc gia" như mục tiêu đã đề ra.

Theo đại biểu, trong báo cáo giải trình, Chính phủ đã bổ sung các chính sách về phát triển hạ tầng số và ứng dụng AI trong hoạt động xuất bản. Đại biểu cho rằng, đây là bước đi đột phá nhằm thực hiện chủ trương coi xuất bản vừa là lĩnh vực tư tưởng, vừa là một ngành kinh tế - công nghệ nhưng trong dự thảo Luật vẫn còn quy định khá khái quát về vấn đề này.
Do vậy, đại biểu đề nghị cần nghiên cứu, bổ sung các quy định cụ thể hơn về việc bảo vệ bản quyền trong môi trường trí tuệ nhân tạo (AI), trách nhiệm của các bên khi sử dụng AI để sáng tạo nội dung và đặc biệt là chính sách ưu đãi đầu tư cho hạ tầng dữ liệu dùng chung của ngành xuất bản để tránh lãng phí nguồn lực.
Về quản lý nội dung có tính chất xuất bản trên không gian mạng, theo đại biểu Vương Quốc Thắng, đây là nội dung Chính phủ đã tiếp thu và chỉnh lý kỹ thuật ngôn từ để làm rõ đối tượng điều chỉnh. Đại biểu đánh giá cao việc Chính phủ xác định đây là đối tượng điều chỉnh đặc thù nhằm quản lý các nội dung số xuyên biên giới.
Đại biểu cho rằng để bảo đảm tính rõ ràng của quy định và tính khả thi trong thực tiễn, cần làm rõ hơn các tiêu chí kỹ thuật để nhận diện loại nội dung này. Chỉ có như vậy mới bảo đảm các quy định của Luật này không gây chồng chéo với Luật An ninh mạng hay Luật Công nghệ số, đồng thời phải đảm bảo tính khả thi trong việc ngăn chặn, gỡ bỏ các nội dung vi phạm trên các nền tảng số.
Làm rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong toàn bộ quy trình xuất bản
Theo ĐBQH Trần Mạnh Huy (TP. Đà Nẵng), Điều 45 và Điều 50 của dự thảo Luật đặt ra trách nhiệm của nền tảng trong nhận diện, ngăn chặn và gỡ bỏ nội dung vi phạm. Trong thực tế, nhiệm vụ này chắc chắn sẽ dựa nhiều vào thuật toán và AI. Đại biểu đề nghị Luật quy định rõ: AI chỉ có chức năng phát hiện và cảnh báo; quyết định gỡ bỏ, đình chỉ, thu hồi hoặc xử lý vi phạm phải do người có thẩm quyền xem xét và chịu trách nhiệm. Người đăng nội dung phải được biết căn cứ gỡ bỏ, có quyền giải trình và yêu cầu xem xét lại.
“Nếu một thuật toán gỡ nhầm một giáo trình, một công trình nghiên cứu hoặc một xuất bản phẩm hợp pháp, không thể trả lời người dân rằng đó là quyết định của hệ thống. Trong quản trị công, không thể có quyền lực mà không có chủ thể chịu trách nhiệm”, đại biểu nhấn mạnh.

Liên quan đến Điều 32 phân quyền cấp phép cơ sở in nhỏ cho cấp xã; Điều 36 chuyển hoạt động phát hành từ điều kiện kinh doanh sang thông báo; các Điều 38 đến Điều 42 giảm tiền kiểm đối với nhập khẩu xuất bản phẩm, đại biểu Trần Mạnh Huy bày tỏ đồng tình với hướng cải cách này. Tuy nhiên, theo đại biểu, điều kiện tiên quyết là phải có nền tảng quản lý dùng chung, mã định danh thống nhất cho từng cơ sở, trạng thái giấy phép, lịch sử vi phạm và dữ liệu liên thông với hải quan, thương mại điện tử và cơ quan quản lý thị trường.
ĐBQH Châu Văn Minh (Phú Thọ) cho rằng hoạt động xuất bản trước hết là hoạt động tổ chức, thẩm định và chịu trách nhiệm về nội dung. Thực tiễn cho thấy, nếu quy trình đọc, duyệt, biên tập và quản lý bản thảo bị buông lỏng thì hậu quả không chỉ là vi phạm hành chính mà còn có thể tác động tiêu cực đến nền tảng tư tưởng, lịch sử, văn hóa, danh nhân và niềm tin xã hội.
Vì vậy, dự thảo cần tiếp tục làm rõ hơn trách nhiệm của cơ quan quản lý, người đứng đầu nhà xuất bản, tổng biên tập, biên tập viên và đối tác liên kết trong từng khâu của quy trình xuất bản.

Đại biểu cũng đề nghị thiết kế trách nhiệm theo nguyên tắc quyền quyết định đến đâu thì trách nhiệm đến đó; mọi thay đổi đối với bản thảo sau khi đã được biên tập, duyệt phải được kiểm soát và có khả năng truy xuất. Đối với liên kết xuất bản, cần bảo đảm nhà xuất bản thực sự giữ vai trò chủ thể, không chỉ thực hiện thủ tục hành chính hoặc cấp quyết định xuất bản. Hồ sơ liên kết phải thể hiện rõ quyền sử dụng hợp pháp đối với bản thảo, hình ảnh, bản dịch và các thành phần nội dung; trách nhiệm quản lý bản mẫu; trách nhiệm khi in, phát hành sai nội dung đã được duyệt.
Cùng với chế tài xử lý, theo đại biểu, Luật cần khuyến khích cơ chế phòng ngừa vi phạm thông qua chuẩn hóa quy trình nội bộ, kiểm soát chất lượng, lưu vết điện tử và hậu kiểm có trọng tâm. Việc xác định trách nhiệm phải dựa trên hành vi, lỗi và phạm vi kiểm soát của từng chủ thể, tránh đánh đồng trách nhiệm giữa nhà xuất bản, biên tập viên, đối tác liên kết, cơ sở in và đơn vị phát hành.
Đại biểu Châu Văn Minh cũng đề nghị sau khi thống nhất các chính sách lớn, Ban soạn thảo cần rà soát đồng bộ giữa Luật với các quy định về sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, thư viện, báo chí, giao dịch điện tử, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và xử lý vi phạm hành chính. Các thuật ngữ về xuất bản điện tử, bản mẫu, dữ liệu, nền tảng số, dịch vụ trung gian và mức độ tham gia của trí tuệ nhân tạo cần được giải thích thống nhất, đủ rõ để áp dụng.

