Căn cứ để thực hiện chính sách dân tộc
Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội đã nêu rõ: “Xây dựng và ban hành tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển bảo đảm toàn diện, khách quan, khoa học, chính xác, làm cơ sở xác định đối tượng, địa bàn cần ưu tiên để tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm”. Để thực hiện nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Dân tộc đã chủ trì xây dựng Đề án Tiêu chí phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025. Cho ý kiến về dự thảo Đề án này, Thường trực Hội đồng Dân tộc nhấn mạnh, đây là nhiệm vụ rất quan trọng, làm cơ sở để xác định phạm vi, đối tượng, địa bàn thực hiện chính sách.
Nhiệm vụ cần thiết, cấp bách
Thực hiện Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18.11.2019 của Quốc hội Khóa XIV phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2021 - 2030, Ủy ban Dân tộc đã sớm chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng dự thảo Đề án Tiêu chí phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025.
Thực tế cho thấy, quá trình triển khai thực hiện các bộ tiêu chí từ năm 1996 đến nay, trong đó có Quyết định số 50/2016/QĐ-TTg ngày 3.11.2016 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, đã bộc lộ một số bất cập. Lãnh đạo Ủy ban Dân tộc cho biết, tất cả các bộ tiêu chí không đề cập đến tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số, do đó phân định xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi bao gồm cả các xã không có hoặc có rất ít đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Các tiêu chí đã từng bước được lượng hóa, nhưng do chưa tính đến yếu tố đặc thù của từng vùng miền nên còn có sự chênh lệch giữa xã đặc biệt khó khăn ở các địa bàn.
Bên cạnh đó, thôn đặc biệt khó khăn là một trong các tiêu chí xác định xã thuộc 3 khu vực là chưa phù hợp giữa xã quy mô lớn, có nhiều thôn, với xã quy mô nhỏ có ít thôn; dẫn đến tình trạng xã khu vực II có nhiều thôn đặc biệt khó khăn hơn xã khu vực III, gây bất cập cho phân bổ nguồn lực đầu tư, áp dụng các chính sách liên quan. Các địa phương cũng có tâm lý muốn có nhiều thôn, xã đặc biệt khó khăn để được đầu tư, thụ hưởng chính sách từ ngân sách trung ương, nên một số địa phương tổ chức phân định chưa phù hợp với tiêu chí và điều kiện thực tế. Để giảm bớt thủ tục hành chính, quy định hiện hành đã không đề cập đến vai trò thẩm định của Ủy ban Dân tộc, nên việc phân định chưa thật sự công bằng, minh bạch giữa các địa phương, chưa thật sự tập trung nguồn lực cho những nơi khó khăn nhất.
Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội đã nêu rõ: “Xây dựng và ban hành tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển bảo đảm toàn diện, khách quan, khoa học, chính xác, làm cơ sở xác định đối tượng, địa bàn cần ưu tiên để tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm”. Vì thế, khi cho ý kiến về dự thảo Đề án, Thường trực Hội đồng Dân tộc nhấn mạnh, đây là nhiệm vụ rất quan trọng, làm cơ sở để xác định phạm vi, đối tượng, địa bàn thực hiện chính sách. Việc xây dựng tiêu chí phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển là nhiệm vụ cần thiết, cấp bách.
![]() Nguồn: ITN |
Đúng trọng tâm, trọng điểm và hiệu quả
Trong dự thảo Đề án, lãnh đạo Ủy ban Dân tộc cũng nhận định, xây dựng tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển (xã khu vực III, khu vực II, khu vực I) làm căn cứ để thực hiện các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, bảo đảm trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả.
Dự thảo Đề án xác định các xã, thôn thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi có tỷ lệ dân số là đồng bào dân tộc thiểu số trên 15% so với tổng số dân trên địa bàn (cao hơn mức bình quân chung của cả nước hiện nay là 14,7%). Quy định này được Ủy ban Dân tộc cho rằng sẽ khắc phục được tình trạng hiện nay xã được xác định vùng dân tộc thiểu số nhưng không có hoặc có rất ít người dân tộc thiểu số sinh sống. Đồng thời lượng hóa được nội dung thế nào là nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số quy định tại Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc.
Thường trực Hội đồng Dân tộc cũng cho biết, đưa ra tiêu chí này trong bối cảnh, điều kiện hiện nay là phù hợp, do địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số nước ta không có lãnh thổ riêng mà sống xen kẽ với các dân tộc khác. Nếu lấy tỷ lệ dân số dân tộc thiểu số lớn hơn sẽ có nhiều khu vực bị loại ra khỏi vùng dân tộc thiểu số và miền núi như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên và các tỉnh trung du phía Bắc.
Việc quy định tỷ lệ trên 15% người dân tộc thiểu số để xác định vùng dân tộc thiểu số và miền núi như dự thảo đã đưa ra khỏi danh sách khoảng 2.000 xã (trong số 5.266 xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi hiện nay) do không có hoặc có ít người dân tộc thiểu số cư trú. Tuy nhiên, để phù hợp với Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc quy định “vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng” và bảo đảm chính sách đầu tư đúng trọng tâm, trọng điểm theo yêu cầu Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội, Thường trực Hội đồng Dân tộc đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu có thể quy định tăng tỷ lệ người dân tộc thiểu số đối với xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi lên cao hơn.
Đáng lưu ý, Thường trực Hội đồng Dân tộc đề nghị Ủy ban Dân tộc không nên đưa tiêu chí về độ cao làm căn cứ xác định mức độ khó khăn, do việc xác định độ cao hiện nay còn nhiều bất cập, không chính xác, sẽ gây khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện.
Các ý kiến của Thường trực Hội đồng Dân tộc đã được gửi đến Ủy ban Dân tộc và là cơ sở để Ủy ban Dân tộc tiếp tục hoàn thiện dự thảo Đề án.


