Giao thông

Cách nào vượt “cửa ải” tín dụng cho PPP giao thông?

Minh Anh 13/08/2026 18:13

Nhu cầu đầu tư hạ tầng giao thông đang tăng nhanh, nhưng khi quy mô dự án ngày càng lớn, thời gian hoàn vốn kéo dài và rủi ro doanh thu được nhìn nhận thận trọng hơn, nguồn vốn tín dụng đang trở thành một trong những “cửa ải” quyết định tính khả thi của các dự án hạ tầng PPP.

Khó “chốt” dòng vốn

Tại nhiều dự án giao thông triển khai theo phương thức đối tác công - tư (PPP), việc được phê duyệt chủ trương, thậm chí lựa chọn được nhà đầu tư, chưa đồng nghĩa với nguồn vốn triển khai đã được bảo đảm.

1786592724729_7546251636765780285_7546251636765780285_b8f73f5eaa0600f828332c817ec50f39-5b37301caab80705f741b41eafe2e864.jpg
Phối cảnh một nút giao trên tuyến đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô.

Cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng, đoạn qua Nam Định và Thái Bình (cũ), có tổng mức đầu tư 19.784 tỷ đồng, trong đó nhà đầu tư và doanh nghiệp dự án phải thu xếp hơn 10.447 tỷ đồng. Quy mô vốn tư nhân lớn khiến quá trình huy động nguồn lực cho dự án đặt ra nhiều thách thức. Đến tháng 4/2026, dự án mới vượt qua “cửa ải” tín dụng khi Agribank cùng các định chế tài chính ký hợp đồng cấp tín dụng 8.339 tỷ đồng.

Trong khi đó, tại Dự án thành phần 3 Vành đai 4 - Vùng Thủ đô, tổng mức đầu tư theo phương án từng được phê duyệt lên đến hơn 56.293 tỷ đồng, trong đó vốn nhà đầu tư chiếm khoảng 29.526 tỷ đồng. TP. Hà Nội từng tính toán nhu cầu vay có thể chiếm khoảng 85% phần vốn tư nhân và đánh giá khả năng tập trung một lượng tín dụng dài hạn lớn như vậy là hết sức khó khăn.

Những trường hợp trên cho thấy một dự án có thể vượt qua các bước về chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư và xây dựng phương án tài chính, nhưng vẫn chưa thể triển khai nếu không vượt qua được “cửa ải” thu xếp vốn dài hạn.

PGS.TS. Trần Chủng, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam (VARSI), nhấn mạnh “nút thắt” lớn nhất của PPP hạ tầng giao thông là huy động nguồn lực tư nhân, đặc biệt là vốn tín dụng. Theo ông, nhà đầu tư khi tham gia PPP thường phải có khoảng 15 % - 20% vốn chủ sở hữu, phần còn lại chủ yếu dựa vào tín dụng thương mại, trong khi khả năng cung ứng vốn dài hạn và giới hạn cấp tín dụng của từng ngân hàng đều hữu hạn.

“Đầu tư giao thông tồn tại một nghịch lý rất lớn giữa dòng tiền lãi vay của ngân hàng và dòng tiền thu từ phí giao thông của nhà đầu tư, có thể hình dung như hai tam giác phát triển ngược chiều nhau”, ông Trần Chủng chỉ ra.

Ở giai đoạn đầu khai thác, doanh thu thường chưa cao trong khi nghĩa vụ trả nợ đã phát sinh, gây áp lực lên dòng tiền dự án.

Áp lực vốn dài hạn

Trước khi Luật PPP được ban hành năm 2020, cả nước đã huy động khoảng 712.774 tỷ đồng đầu tư 242 dự án PPP giao thông, theo Bộ Xây dựng.

Từ khi Luật PPP có hiệu lực, số dự án mới được triển khai ở mức khá khiêm tốn so với giai đoạn trước. Theo Bộ Tài chính, giai đoạn 2021-2024 có 33 dự án PPP mới, trong đó 25 dự án giao thông, gồm 22 dự án đường bộ cao tốc và 3 dự án cảng hàng không.

Cùng với sự thay đổi về quy mô và yêu cầu đầu tư, cấu trúc huy động vốn cũng đặt ra những yêu cầu mới. Tháng 6/2016, các ngân hàng thương mại đã cam kết cấp gần 159.204 tỷ đồng tín dụng cho các dự án BOT, BT giao thông; tại nhiều dự án BOT có ngân hàng tài trợ, vốn vay từng chiếm khoảng 85-90% tổng mức đầu tư.

Trong khi đó, cơ cấu nguồn vốn của các tổ chức tín dụng có giới hạn về kỳ hạn. Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn, khoảng 80% nguồn vốn huy động của các ngân hàng hiện là ngắn hạn, vốn trung và dài hạn chỉ chiếm khoảng 20%. Các dự án PPP giao thông lại thường cần lượng vốn lớn với thời gian hoàn vốn kéo dài hàng chục năm. Sự chênh lệch này khiến việc cấp tín dụng cho hạ tầng phải được cân nhắc chặt chẽ hơn về kỳ hạn, dòng tiền và khả năng trả nợ.

Bên cạnh đó, giới hạn cấp tín dụng khiến những dự án cần khoản vay hàng chục nghìn tỷ đồng khó phụ thuộc vào một ngân hàng riêng lẻ. Hợp vốn giữa nhiều tổ chức tín dụng vì thế ngày càng trở thành phương thức cần thiết đối với các dự án quy mô lớn, như Vành đai 4 - Vùng Thủ đô hay cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng.

Sự khác biệt về khả năng hấp thụ tín dụng giữa các lĩnh vực cũng là một vấn đề đáng lưu ý. Chương trình tín dụng dành cho các dự án trọng điểm thuộc lĩnh vực hạ tầng điện, giao thông và công nghệ chiến lược có quy mô tối đa 500.000 tỷ đồng đến năm 2030, nhưng đến cuối tháng 5/2026 mới ghi nhận dư nợ khoảng 10.527 tỷ đồng. Con số này phần nào cho thấy việc đưa vốn tín dụng vào các dự án hạ tầng không dễ, khi khoản vay thường lớn, thời gian tài trợ dài và khả năng hoàn vốn phụ thuộc nhiều vào dòng tiền tương lai.

Từ góc độ tài chính, TS. Lê Xuân Nghĩa, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, nhận định “ngân hàng là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho nhu cầu ngắn và trung hạn của nền kinh tế”. Theo ông, việc đặt quá nhiều nhu cầu vốn dài hạn lên hệ thống ngân hàng sẽ gia tăng áp lực cân đối nguồn vốn; vì vậy cần phát triển mạnh hơn thị trường trái phiếu, chứng khoán và các quỹ đầu tư phát triển.

Tăng tính khả thi từ chính dự án

Giới hạn của nguồn vốn ngân hàng đặt ra yêu cầu nâng tính khả thi tài chính của dự án ngay từ khâu chuẩn bị. “Lưu lượng xe dự báo có thể không chính xác, hoặc sau khi dự án hoàn thành, lưu lượng giảm đáng kể do bị phân lưu”, PGS.TS. Trần Chủng nói.

Vì vậy, những yếu tố như lưu lượng, nguy cơ phân lưu, quy mô đầu tư hay thời gian hoàn vốn cần được lượng hóa từ đầu để xác định cơ cấu vốn phù hợp và phân bổ rủi ro giữa Nhà nước, nhà đầu tư và bên cho vay. Đây cũng là cơ sở để xác định mức tham gia của vốn Nhà nước thay vì để toàn bộ áp lực tài chính dồn lên vốn tư nhân và tín dụng thương mại.

Khung pháp lý PPP những năm gần đây đã mở thêm dư địa theo hướng này. Luật số 57/2024/QH15 cho phép phần vốn Nhà nước tham gia có thể lên 70% trong một số trường hợp. Quy định này tạo điều kiện linh hoạt hơn trong sử dụng nguồn lực công để nâng tính khả thi tài chính của những dự án có điều kiện đầu tư khó khăn, qua đó cải thiện khả năng huy động phần vốn còn lại từ nhà đầu tư và các tổ chức tín dụng.

Cao tốc Gia Nghĩa - Chơn Thành là một trường hợp đang được nghiên cứu theo hướng đó. Tháng 6/2026, UBND TP. Đồng Nai đề xuất nâng phần vốn Nhà nước tại dự án thành phần PPP từ khoảng 6.842 tỷ đồng lên 15.300 tỷ đồng, tương đương 69,21% sơ bộ tổng mức đầu tư; phần vốn nhà đầu tư phải huy động theo đó được giảm xuống.

Tuy nhiên, tỷ lệ vốn Nhà nước mới giải quyết một phần yêu cầu về tài chính. Với một dự án có vòng đời hàng chục năm, độ tin cậy của hợp đồng, cơ chế chia sẻ rủi ro và khả năng thực thi các cam kết cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của nhà đầu tư và ngân hàng.

Khả năng khơi thông tín dụng cho các dự án PPP giao thông vì vậy phụ thuộc trước hết vào chất lượng và tính khả thi của chính dự án: tổng mức đầu tư sát thực tế, dự báo lưu lượng thận trọng, tỷ lệ vốn Nhà nước phù hợp, rủi ro được phân bổ cho bên có khả năng kiểm soát và cơ chế hợp đồng đủ rõ để xử lý các biến động khách quan.

Khi những điều kiện này được xử lý ngay từ khâu chuẩn bị, nguồn vốn tín dụng ngân hàng được khơi thông cho hạ tầng thì mới phần nào có thể phát huy vai trò đòn bẩy tài chính, qua đó huy động thêm nguồn lực tư nhân cho nhu cầu đầu tư hạ tầng giao thông đang ngày càng lớn.

    Cách nào vượt “cửa ải” tín dụng cho PPP giao thông?
    • Mặc định