Các tổ chức xã hội dân sự có vai trò quan trọng trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS
Chia sẻ với PV ĐBND tại Hội thảo tham vấn Chiến lược tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội vào công cuộc phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2020, CHUYÊN GIA ĐỘC LẬP VỀ SỨC KHỎE VÀ PHÁT TRIỂN TRẦN TIẾN ĐỨC nhấn mạnh: các tổ chức xã hội dân sự (TCXHDS) có vai trò quan trọng trong việc chống kỳ thị và phân biệt đối xử. Tuy nhiên, các yếu tố môi trường đã tạo ra không ít khó khăn, thách thức cho các TCXHDS tham gia phòng, chống HIV/AIDS. Đó là những thách thức liên quan đến các rào cản hiện tại của khung pháp lý, sự phân biệt kỳ thị vẫn tồn tại trong xã hội, sự giảm dần và thiếu bền vững của các nguồn tại trợ quốc tế, cũng như diễn biến phức tạp của đại dịch HIV/AIDS…
-Xin Ông cho biết, những kết quả đã đạt được của các tổ chức xã hội dân sự (TCXHDS) tham gia vào công cuộc phòng, chống HIV/AIDS trong thời gian qua?
Chuyên gia Trần Tiến Đức: Như Báo cáo quốc gia đánh giá, các TCXHDS đã có sự đóng góp tích cực trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS. Cụ thể, như việc cung cấp các dịch vụ cho các nhóm dễ bị tổn thương, nhóm quan hệ đồng tính, những người sử dụng ma túy, bị nhiễm HIV… Tất cả các dịch vụ đó đều được các nhóm thực hiện rất nhiều (75% các dịch vụ dành cho những người quan hệ đồng tính đều do các nhóm xã hội dân sự làm ra). Tại sao làm được như vậy, trước hết bởi họ hoạt động trong cộng đồng, đại diện cho cộng đồng, cho những nhóm người dễ bị tổn thương, họ hiểu được nhu cầu của những người đó và họ coi những hoạt động đó là hoạt động của chính mình. Còn những hoạt động khác như truyền thông, chuyển đổi hành vi, trong các nhóm có nguy cơ cao cũng chủ yếu là do các TCXHDS. Ở Hà Nội, có nhóm những người thuộc mạng lưới của những người sống chung với HIV như nhóm Vì ngày mai tươi sáng, các nhóm Về nhà và nhiều nhóm khác… Phía Nam có nhóm Mạng lưới sống chung với HIV. Hiện nay, đã có hàng trăm tổ chức cộng đồng hoạt động trên nhiều các tỉnh thành ở các nước và có quy tụ hàng chục nghìn người sống chung với HIV và những người bị ảnh hưởng bởi HIV như những người sử dụng ma túy, hành nghề mại dâm hoặc những người có quan hệ đồng tính… Ngay cả trong chiến lược quốc gia, coi việc xã hội hóa, thúc đẩy các TCXHDS là một trong những yếu tố bảo đảm cho sự thành công của chiến lược.
- Mục tiêu đặt ra cho các TCXHDS trong thời gian tới là gì, thưa Ông?
Chuyên gia Trần Tiến Đức: Mục tiêu của các TCXHDS trong thời gian tới là xây dựng một chiến lược tăng cường sự tham gia của xã hội dân sự trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam là phấn đấu để cho năng lực các TCXHDS được nâng cao, vị trí và vị thế của các TCXHDS được nâng cao, môi trường xã hội và pháp lý thuận lợi để các TCXHDS có thể hoạt động như một đối tác bình đẳng trong chương trình phòng, chống HIV/AIDS của Việt Nam và có thể cung cấp các dịch vụ có hiệu quả cho chương trình đó. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải nâng cao năng lực cho các TCXHDS. Bên cạnh đó là tạo môi trường pháp lý và môi trường xã hội thuận lợi; cung cấp các dịch vụ có hiệu quả và đáp ứng được đúng nhu cầu cộng đồng; liên kết tất cả các mạng lưới, các TCXHDS nhất là từng cộng đồng một để đáp ứng có hiệu quả nhất và tiết kiệm nhất; các TCXHDS phải được tham gia vào quá trình giám sát, đánh giá, thực hiện các nghiên cứu để cung cấp được các bằng chứng thấy rằng sự tham gia của cácTCXHDS là có hiệu quả.
- Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong công cuộc tham gia phòng, chống HIV/AIDS, các TCXHDS còn gặp không ít những khó khăn, thách thức. Vậy Ông có đề xuất gì nhằm tháo gỡ những khó khăn, thách thức đó?
Chuyên gia Trần Tiến Đức: Thành quả phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam có thể to lớn nhiều hơn nữa nếu chúng ta huy động được tốt hơn nữa sự tham gia của các TCXHDS. Cho đến nay, các TCXHDS đã tham gia vào nhưng chưa đầy đủ. Chưa đầy đủ là vì khung pháp lý còn nhiều hạn chế để các TCXHDS có thể được đăng ký hoạt động với tư cách pháp nhân hoặc có thể đăng ký tham gia vào chương trình… Điều đó, chắc chắn trong thời gian tới, các TCXHDS cùng với Nhà nước sẽ phải có một chương trình để có một khung pháp lý hoàn thiện hơn. Bên cạnh đó, dư luận xã hội còn chưa hiểu về các TCXHDS. Mục tiêu của các TCXHDS là tạo sự cộng tác hết sức chặt chẽ, không phải là đối lập mà tạo sự đối thoại để cùng nhau tìm ra tiếng nói, tìm ra giải pháp. Trên cơ sở sự thay đổi về môi trường pháp lý và môi trường xã hội thì chắc chắn rằng, các TCXHDS sẽ lớn mạnh, sẽ liên kết với nhau nhiều hơn. Nếu TCXHDS được coi là một đối tác bình đẳng trong công tác phòng, chống HIV/AIDS cũng như trong mọi công cuộc phát triển khác như xóa đói giảm nghèo, nâng cao sức khỏe người dân, bảo đảm bình đẳng giới, vấn đề giải quyết công ăn việc làm, vấn đề bảo đảm học hành cho tất cả mọi nhóm thiệt thòi thì chắc chắn công cuộc phòng, chống HIV/AIDS sẽ đạt được kết quả to lớn hơn nữa.
- Ông nhận định như thế nào về vai trò của các TCXHDS trong công tác phòng, chống HIV/AIDS trong thời gian tới?
Chuyên gia Trần Tiến Đức: Như tôi đã nói, các TCXHDS trong thời gian tới có thể đóng vai trò ngày một lớn, trong tất cả mọi công đoạn, giai đoạn của quá trình ứng phó quốc gia đối với HIV, từ dự phòng đến chăm sóc, điều trị cho đến các hoạt động giám sát, đánh giá, xây dựng chính sách. Ví dụ, cũng nhờ sự đóng góp của các TCXHDS tham gia cùng các tổ chức khác, chương trình giảm hại đã được đưa vào chương trình quốc gia; từ chỗ chỉ có vài trăm người được điều trị bằng liệu phép thay thế Methadone và hiện nay đã đến hàng nghìn người. Theo quyết định của Chính phủ, sắp tới những chương trình này sẽ được mở rộng thêm nữa ra nhiều tỉnh khác trên toàn quốc và chương trình này chỉ có thể được triển khai với sự tham gia tích cực của các TCXHDS nếu như họ vận động được những người đang sử dụng ma túy, có nguy cơ lây nhiễm HIV cao, tham gia vào chương trình này.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng, vai trò của các TCXHDS trong chống kỳ thị và phân biệt đối xử rất là quan trọng. Một khi họ đã chống được cái tự kỳ thị của bản thân mình, dám công khai xuất hiện và dám đối đầu với dư luận, với những cái nhìn chưa đúng đắn về mình và họ cùng những người cùng cảnh ngộ với mình tham gia vào chương trình thì chắc chắn điều đó sẽ khích lệ và thúc đẩy nhiều người tham gia hơn nữa. Ví dụ, nếu chúng ta còn để kỳ thị, phân biệt đối xử thì không bao giờ người có HIV, người có nguy cơ nhiễm HIV sẽ đi xét nghiệm và không xét nghiệm thì sẽ không biết mình có HIV; khi biết mình có HIV, người ta không tự nguyện và môi trường vẫn còn kỳ thị họ sẽ không đến với cộng đồng, không đến với các cơ sở y tế và không được điều trị kịp thời và như thế nguy cơ lây lan rất lớn.
Những kết quả của Chương trình phòng, chống HIV/AIDS của Việt Nam đạt được trong thời gian qua thông qua những con số báo cáo của Cục phòng, chống HIV/AIDS đã công bố có thể thấy rõ ràng số người nhiễm mới về HIV đã giảm, có nghĩa là họ đã tham gia vào việc phòng ngừa, vào biện pháp giảm hại như sử dụng bao cao su, không sử dụng chung bơm kim tiêm… Số tử vong do AIDS giảm đi, có nghĩa là số người bị nhiễm HIV đến và được điều trị. Chúng ta có thể thấy rằng, số người được điều trị ở Việt Nam từ con số khoảng 50 người đầu những năm 2000, bây giờ lên 50.000 người. Đây là một sự phát triển rất lớn. Chính vì được điều trị nên tuổi thọ của những người bị HIV/AIDS được kéo dài. Nếu được điều trị kịp thời, sau khi bị HIV/AIDS, người ta có thể sống thêm được 33 - 35 năm theo nghiên cứu của thế giới. Như vậy rõ ràng tuổi thọ họ không khác gì so với những người bình thường khác.
- Xin cám ơn Ông!

