Ca trù trên đất Tổ

Đinh Vũ 29/01/2013 08:28

Đất Tổ Phú Thọ vốn là cái nôi của những làn điệu dân ca xoan, ghẹo nhưng nơi đây cũng sớm tiếp thu lối hát ca trù các dịp lễ hội, đình đám... và coi đó là sản phẩm tinh thần không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt cộng đồng.

Chủ nhiệm CLB Ca trù TP Việt Trì Điền Ngọc Phách - người có nhiều năm nghiên cứu, bảo tồn ca trù ở Phú Thọ khẳng định: xưa kia ở Phú Thọ, ca trù từng tồn tại song hành với các làn điệu dân ca xoan, ghẹo - đặc sản của địa phương. Điều này được thể hiện trên hàng loạt văn bia thế kỷ XVII, XVIII, XIX có ghi các “khế ước” về mua bán quyền hát cửa đình. Cùng với đó là các dấu vết còn lưu lại trong điêu khắc cổ, những bức chạm về đàn đáy, cỗ phách, các bức trạm về hoạt động múa, hát ca trù trên các đình, đền ở Phú Thọ, trong đó tiêu biểu nhất là bức chạm những người đang sử dụng đàn đáy ở đình Xốm (xã Hùng Lô, huyện Phù Ninh). Trong quá trình thực hiện đề tài khoa học cấp cơ sở Nghiên cứu sử dụng và phát huy các diễn xướng dân gian đặc biệt vùng đất Tổ, ông Phách phát hiện thêm hơn 10 địa danh như Đền Tiên, Lâu Thượng, Cung phủ Lang Liêu, Bảo Đà, Văn Luông, Hoa Long Thiền Tự, Đại Bi... trước đây đều tổ chức hát nhà tơ (ca trù) vào dịp xuân - thu nhị kỳ.

Trở lại thôn Trinh Nữ (xã Bình Bộ, Phù Ninh), chúng tôi tìm gặp cụ Phạm Thị Bang - người duy nhất của tỉnh Phú Thọ được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian ở thể loại ca trù. Sinh ra ở huyện Sông Lô (Vĩnh Phúc), trong một gia đình có truyền thống ca hát, cụ Bang thuộc thế hệ thứ tư theo hát ca trù. Cụ Bang theo cha mẹ đi hát từ nhỏ và được truyền dạy nghề hát từ rất sớm. Cha cụ là Phạm Văn Bân, nổi tiếng về đàn đáy và đánh trống chầu thuộc loại giỏi nhất vùng. Mẹ cụ là Lưu Thị Hoan, cũng được liệt vào số ca nương tiếng tăm một thuở. Sau này, cụ về làm dâu Bình Bộ, làn điệu ca trù đã ăn sâu vào tâm khảm và theo cụ cho đến ngày nay. Trong nhà, ngoài cụ Bang, 3 cô con gái đều theo nghiệp ca hát. Hiện nay tuy đã 94 tuổi, nhưng giọng cụ vẫn vang, rền, nền, nảy; tay sênh, tay phách khuôn thước. Cụ Bang vẫn nhớ rõ 8 giọng chính và 38 giọng lẻ của ca trù, có thể ngồi “ví dụ” thế nào là giọng chầu văn, thế nào là giọng tuồng, rồi xẩm, xướng tế, khóc... Cụ nhớ cả 40 bài hát miễu và hát nói, hơn chục bài hát thờ. Gần 70 năm không còn đụng đến cây đàn, nhưng “từng câu, từng ý, từng lời hát ấy đã ăn vào máu thịt, tôi làm sao quên được”.

Cũng theo lời cụ Bang, trước đây ca trù ở Phú Thọ rất phát triển và thường đi đôi với hát chèo, hát tuồng, hát xoan. Trước Cách mạng Tháng 8, chỉ tính riêng Phú Thọ đã có tới hàng mấy chục đoàn và phường hát ca trù, trong đó có những điểm ca trù tiêu biểu như: Thị xã Phú Thọ từng có phường hát cô đầu nổi tiếng do cụ Trùm Tập là trùm trưởng; huyện Phù Ninh có phường Bình Bộ, Tử Du gắn liền với tên tuổi của kép kèn Đỗ Văn Khay, kép trống Phạm Văn Quy... Ngoài ra, còn một số điểm hát cô đầu nổi tiếng ở một số vùng đông dân cư. Các phường này chủ yếu hát và biểu diễn các loại hình nghệ thuật truyền thống và giữa các phường luôn có sự giao lưu, trao đổi nghệ thuật và kinh nghiệm về ca trù. Bản thân cụ Bang trước đây cũng thường theo phường đi biểu diễn ca trù không chỉ ở các xã, các huyện trong tỉnh mà còn sang cả Lập Thạch (Vĩnh Phúc) hay về Hà Nội, Hải Phòng...

Tuy nhiên ở Phú Thọ cũng như nhiều nơi khác, nhiều năm trở lại đây, ca trù hầu như bị lãng quên. Theo khảo sát của Sở VH, TT và DL, ở Phú Thọ hiện chỉ còn 3 cụ: Phạm Thị Bang, Đỗ Thị Lợi, Đỗ Kim Liên đều thuộc thôn Trinh Nữ, xã Bình Bộ, Phù Ninh giữ được nhiều làn điệu, lối hát ca trù truyền thống, đặc sắc của người Việt ở vùng trung du Bắc bộ. Năm 2010, sau khi ca trù được UNESCO đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, Sở VH, TT và DL Phú Thọ đã thành lập Câu lạc bộ hát ca trù với 15 thành viên tham gia, tuy nhiên CLB hoạt động cầm chừng, chỉ sinh hoạt vài ba buổi một năm. Trước đó, năm 2006, sau quá trình nghiên cứu về ca trù, ông Điền Ngọc Phách cùng một số người nặng lòng với nghệ thuật ca trù đứng ra thành lập CLB Ca trù Việt Trì gồm 26 thành viên, chủ yếu là nghệ sỹ của các đoàn nghệ thuật trong và ngoài tỉnh cùng các đào nương từ lớp 6 đến lớp 8 thuộc làng Xoan An Thái (xã Phượng Lâu, Việt Trì). Sau 7 năm thành lập, CLB ca trù Việt Trì đã 3 lần mời NSUT Kim Đức về truyền nghề, đồng thời đưa các kép, đào về Hà Nội tham gia lớp bồi dưỡng, nâng cao... Tuy nhiên, “hiệu ứng di sản” thuần túy không nuôi nổi ca trù, các CLB mỗi lúc trở nên lỏng lẻo vì vắng khán giả, thiếu nguồn lực để tự nuôi mình.

Trao đổi với chúng tôi, Phó giám đốc Sở VH, TT và DL, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian tỉnh Phú Thọ Phạm Bá Khiêm cho biết: để bảo tồn, phát huy giá trị ca trù tại Phú Thọ, từ sau ngày ca trù được UNESCO đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, Sở VH, TT và DL đã xây dựng kế hoạch, tham mưu cho UBND tỉnh có chính sách hỗ trợ nghệ nhân cao tuổi và tăng cường tổ chức các lớp truyền nghề; đồng thời xây dựng và ban hành cơ chế quản lý, tổ chức và kinh phí hoạt động cho các Câu lạc bộ ca trù, sớm đưa ca trù vào giảng dạy trong trường nhạc... Thời gian tới, ngành VH, TT và DL Phú Thọ tiếp tục tham mưu và đề nghị UBND tỉnh cùng các sở, ngành liên quan quan tâm đầu tư kinh phí, phương tiện, đạo cụ nhằm tổ chức các lớp truyền dạy ca trù cho nhiều đối tượng và bảo tồn, phát triển ca trù trở thành một hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian đặc sắc của vùng đất Tổ; để ca trù cùng với hát xoan, hát ghẹo trên quê hương Phú Thọ phục vụ khách trong và ngoài nước về thăm viếng miền đất cội nguồn của dân tộc Việt Nam.

    Ca trù trên đất Tổ
    • Mặc định