“Biển với tôi như là số phận”
Festival Sách và Biển (Festival Livre et Mer) được tổ chức hàng năm tại Pháp. Giải thưởng mang tên Henri Queffélec, nhà văn được coi là người viết về biển bằng tiếng Pháp hay nhất thế kỷ XX và là người sáng lập giải. Giải thưởng năm nay thuộc về nhà văn Việt Nam Bùi Ngọc Tấn với tác phẩm Biển và chim bói cá (Tây Hà dịch). Sau 28 năm, lần đầu tiên giải thưởng ra khỏi châu âu. Dưới đây là cuộc trao đổi với nhà văn Bùi Ngọc Tấn nhân sự kiện này.
- Ông có bất ngờ không khi biết mình được nhận giải thưởng này?
- Vâng. Tôi bị bất ngờ. Thậm chí trước đó tôi còn không biết có một festival như vậy được tổ chức hàng năm ở Pháp. Không chỉ tôi mà cả dịch giả Tây Hà cũng bất ngờ vì chúng tôi không gửi tác phẩm đi dự thi. Hơn thế, La Mer et le Martin-pêcheur (tên tiếng Pháp của Biển và chim bói cá) mới được in và phát hành tại Pháp tháng 10.2011 và tháng 4.2012 đã được giải, nhanh quá!
Về sau mới biết sau khi phát hành, La mer et le Martin-pêcheur đã được bạn đọc Pháp đón đọc, tạo được dư luận và đã được đưa vào chung khảo Festival.
Sau cảm giác bất ngờ là sự tự hào. Vào chung khảo với La Mer et le Martin-pêcheur có năm tập sách, tác giả toàn là các nhà văn chuyên nghiệp. Người ở Canada, người ở Bỉ, ở Pháp, có người là thủy sư đô đốc (nghĩa là rất hiểu biển), người là giám đốc nhật báo Le Monde, một tờ báo lớn của Pháp và thế giới. Đây là một cuộc đọ sức với những đối thủ nặng ký và Biển và chim bói cá đã thắng.
- Ông có thể giới thiệu một chút về tác phẩm Biển và chim bói cá?
- Biển và chim bói cá là tiểu thuyết thứ năm của tôi và là tiểu thuyết duy nhất được in và phát hành suôn sẻ. Chỉ riêng Biển và chim bói cá là được in, tái bản, báo chí đưa tin. Lại còn được đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Tưởng thế đã là may mắn lắm rồi, nhưng nó lại được dịch ra tiếng Pháp và đoạt giải thưởng. Có lẽ bốn anh chị sinh trước nó bị vất vả nên số phận đã cho nó một sự đền bù chăng?
Tiểu thuyết Biển và chim bói cá viết về một giai đoạn quá độ từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường tại một xí nghiệp đánh cá quốc doanh, một giai đoạn của những cuộc chuyển mình trong tư tưởng, trong tổ chức sản xuất, trong quan hệ giữa người với người, giữa người với biển, một cuộc vật lộn gian khổ và đau đớn… Và cuối cùng Biển và chim bói cá còn là một bài ca lao động…
Tôi đã sống ở một xí nghiệp đánh cá quốc doanh 20 năm. Là một thành viên, một tế bào của cái cơ thể phập phồng hơi thở có đối tượng lao động là biển cả này, tôi vui niềm vui của những ngày biển lặng gió êm, những chuyến biển tàu về đầy ắp cá, tôi lo lắng cho những người bạn của tôi đang chịu gió mùa, tránh bão, tôi chia sẻ nỗi buồìn với những thủy thủ khi những chuyến biển bị gẫy… Và tôi hiểu những khó khăn về phụ tùng thay thế, về dầu đốt, về thiếu amôniác chạy máy lạnh, về mỗi khi Sở Điện cúp điện…
Tôi cũng đã nhiều lần đi biển. Reo hò khi đụt cá căng phồng ào ào trút nước xuống boong, lo lắng nhìn đụt lép kẹp vừa lôi lên sàn dốc. Chọn tôm, nhặt cá, luộc tôm tít ăn khuya cùng các thuyền viên. Tôi yêu họ, tôi yêu biển. Tôi mắc nợ với biển và mắc nợ với họ. Tôi đã dành ra ba năm để hoàn thành Biển và chim bói cá như bạn thấy.
- Đọc tác phẩm thấy rõ ông rất yêu biển. Ông có hay viết về biển không?
- Biển với tôi như là số phận. Tôi đã viết vậy trong một bài báo. Năm 1959 đang sống và làm việc tại Hà Nội, tôi xin chuyển về Hải Phòng để được gần biển, viết về biển. Biển luôn hấp dẫn tôi và làm tôi tốt hơn lên. Đứng trước biển, con người ta bớt đi những nhỏ nhen thường nhật. Cho đến nay, tính cả những đầu sách đã in và còn ở dạng bản thảo tôi đã có sáu tập sách viết về biển và một kịch bản phim truyện về một đảo xa.
- Bạn đọc nước ngoài có thể tìm thấy điều gì thú vị trong Biển và chim bói cá? Ban giám khảo Festival Sách và Biển đã đánh giá tác phẩm như thế nào?
- Đọc Biển và chim bói cá, bạn đọc nước ngoài sẽ được du lịch tới Việt Nam, tới biển Việt Nam, được sống với những người đánh cá Việt Nam, “một cộng đồng người đánh cá can đảm và ranh mãnh vật lộn để nuôi sống gia đình, vét biển đến cạn kiệt trước khi bị cuốn vào những quanh co khúc khuỷu của toàn cầu hóa…” như nhận xét của ban giám khảo.
Về nghệ thuật, báo chí đã nêu nhiều nhận xét như cấu trúc của tiểu thuyết, một giọng văn phảng phất Dostoievski, một tiểu thuyết magnifique (tráng lệ, tuyệt vời)… qua đó thấy được hồn thơ pha lẫn với sự hóm hỉnh của một Vaclav Havel, hay một Milan Kundera...
Còn ông Francois Bourgeon, chủ tịch danh dự Festival cũng là chủ tịch hội đồng giám khảo đánh giá: Quyển sách của Bùi Ngọc Tấn hoàn toàn làm chúng tôi thỏa mãn. Bùi Ngọc Tấn kể về đất nước mình và về thế giới đánh cá mà ông từng biết. Với lời văn đẹp đẽ đầy chất thơ, nhà văn Bùi Ngọc Tấn đưa ta đến nơi mà chúng ta chưa bao giờ đến. Chan chứa yêu thương và ngộ nghĩnh… Đầy chất thơ… Bùi Ngọc Tấn tặng chúng ta một quyển tiểu thuyết nhân văn… Cấu trúc rất đặc sắc. Không chút áp đặt, ông dẫn chúng ta đến một vĩ thanh để chúng ta tự do suy ngẫm… Bùi Ngọc Tấn biết cái giá của tự do. Tiểu thuyết của Bùi Ngọc Tấn là cuốn sách không thể nào quên. Thậm chí có lẽ là… một tiểu thuyết làm người ta tốt hơn.
- Ở tuổi 79, ông vẫn tiếp tục sáng tác chứ?
- Sức khỏe ở tuổi 79 như tôi là chấp nhận mọi bất trắc sẽ đến với mình. Không nên định trước một kế hoạch dài ngắn nào. Còn sống và còn làm việc được thì làm việc. Và tôi vẫn đang làm việc.
Tôi bắt đầu viết văn năm hai mươi tuổi, khi kết thúc việc tiếp quản thủ đô Hà Nội năm 1954. Vì sao tôi chọn nghề viết văn ư? Có nhiều lý do mà một lý do quan trọng là: với nghề viết văn tôi có thể sống trung thực. Không phải uốn éo, nịnh bợ để được nâng cấp tài năng. Cũng không lo sợ làm mất lòng cấp trên mà mất đi vài nấc thang giá trị. Viết văn là để sống bằng thực tài, bằng những gì mình có.
- Xin cám ơn nhà văn!

