Bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích của trẻ em
Thảo luận tại Tổ 8 gồm Đoàn ĐBQH TP. Cần Thơ và tỉnh Sơn La, các đại biểu Quốc hội đề nghị sửa đổi Luật Nuôi con nuôi theo hướng bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em, minh bạch hóa quy trình giới thiệu, ghép trẻ với gia đình nhận nuôi, đồng thời tăng cường theo dõi, hỗ trợ để bảo vệ thực chất quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ.
Không để hoàn cảnh làm giảm cơ hội được bảo vệ của trẻ em
Thảo luận về dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), ĐBQH Lò Thị Huyền (Sơn La) nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật cần hướng đến mục tiêu xuyên suốt là bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em, đồng thời tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền nhận con nuôi minh bạch, thuận lợi và bình đẳng.

Đối với quy định về giới thiệu, ghép trẻ em với người nhận con nuôi và vai trò hỗ trợ chuyên môn tại Điều 20, đại biểu cho rằng, nguyên tắc “lợi ích tốt nhất của trẻ em” khó được thực hiện thực chất nếu dự thảo chỉ quy định việc giới thiệu, ghép trẻ ở mức nguyên tắc mà chưa làm rõ tiêu chí, trình tự đánh giá và trách nhiệm của từng cơ quan.

“Nếu thiếu tiêu chí minh bạch, việc lựa chọn có thể bị chi phối bởi nguyện vọng của người nhận nuôi hoặc khả năng hoàn thiện hồ sơ, thay vì nhu cầu, hoàn cảnh và sự an toàn của từng trẻ. Cũng cần tránh tình huống trẻ đang được chăm sóc ổn định bị chuyển nơi chăm sóc chỉ vì thuận tiện cho thủ tục”, đại biểu nhấn mạnh.
Do vậy, đại biểu Lò Thị Huyền đề nghị bổ sung các tiêu chí ghép nối, gồm độ tuổi, tình trạng sức khỏe, nhu cầu đặc biệt, hoàn cảnh tâm lý - xã hội, ngôn ngữ, văn hóa và khả năng đáp ứng lâu dài của gia đình nhận nuôi. Đồng thời, cần quy định rõ cơ quan chịu trách nhiệm quyết định, yêu cầu lưu hồ sơ về căn cứ lựa chọn và cơ chế kiểm tra khi có khiếu nại.

Đại biểu cũng đề nghị tạo điều kiện để người làm công tác xã hội tham gia đánh giá hoàn cảnh của trẻ, tư vấn cho gia đình và hỗ trợ sau khi giao nhận; song phải xác định rõ tiêu chuẩn chuyên môn, trách nhiệm và nguồn lực thực hiện.
Đối với trẻ em ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cần có phương án tiếp cận thông tin, tư vấn và phiên dịch phù hợp, bảo đảm trẻ em và người có trách nhiệm chăm sóc hiểu rõ thủ tục, quyền và hệ quả pháp lý. Theo đại biểu, không được để khó khăn về ngôn ngữ, địa lý hoặc điều kiện kinh tế làm giảm cơ hội được bảo vệ và tìm kiếm gia đình thay thế phù hợp của trẻ em.
Quan tâm đến đối tượng trẻ em được nhận làm con nuôi, ĐBQH Phạm Thị Minh Huệ (TP. Cần Thơ) cho rằng, Điều 13 của dự thảo hiện giới hạn ở trẻ em bị bỏ rơi, mồ côi hoặc không nơi nương tựa. Trong khi đó, trên thực tế còn có những trường hợp trẻ em vẫn còn cha, mẹ đẻ nhưng cha mẹ bị mất năng lực hành vi dân sự, mắc bệnh tâm thần, đang chấp hành án tù chung thân, tử hình hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không thể nuôi dưỡng con.

Đại biểu đề nghị mở rộng quy định, cho phép nhận làm con nuôi đối với trẻ em có cha, mẹ đẻ nhưng cha mẹ bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế quyền đối với con hoặc không có khả năng thực tế để nuôi dưỡng theo xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Qua đó, bảo đảm trẻ em trong những hoàn cảnh này cũng có cơ hội được chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp.
Về thời điểm cha mẹ đẻ đồng ý cho con làm con nuôi, đại biểu Phạm Thị Minh Huệ cho biết, khoản 4 Điều 21 quy định việc đồng ý chỉ được thực hiện sau ít nhất 15 ngày kể từ ngày sinh. Tuy nhiên, có những trường hợp đặc biệt như trẻ bị bỏ rơi ngay sau khi sinh, không tìm được thân nhân hoặc mẹ đẻ mắc bệnh hiểm nghèo và tử vong sau sinh. Vì vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần nghiên cứu bổ sung quy định để giải quyết kịp thời những trường hợp này.
Chuyển từ nghĩa vụ báo cáo sang bảo vệ thực chất quyền lợi của trẻ
Về theo dõi tình hình phát triển của trẻ em sau khi được nhận làm con nuôi, Điều 22 của dự thảo quy định chế độ báo cáo định kỳ 6 tháng một lần trong thời hạn 3 năm. Đại biểu Phạm Thị Minh Huệ đề nghị bổ sung cơ chế miễn báo cáo hoặc theo dõi riêng đối với trường hợp nuôi con nuôi trong phạm vi gia đình, như cha dượng, mẹ kế, cô, chú, bác ruột. Theo đại biểu, áp dụng chế độ báo cáo này đối với những gia đình đã có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân gắn bó từ trước là hình thức và không cần thiết.
Cùng quan tâm đến vấn đề này, ĐBQH Nguyễn Tuấn Anh (TP. Cần Thơ) cho rằng, nếu chỉ yêu cầu cha mẹ nuôi báo cáo định kỳ thì khó phát hiện kịp thời những trường hợp trẻ em gặp khó khăn, bị bỏ mặc hoặc có nguy cơ bị xâm hại.

Tuy nhiên, việc theo dõi cũng cần có giới hạn hợp lý, tránh kiểm tra quá mức, ảnh hưởng đến đời sống riêng tư của gia đình nhận nuôi. Do vậy, đại biểu Nguyễn Tuấn Anh đề nghị quy định việc theo dõi tình hình phát triển của con nuôi phải phù hợp với độ tuổi, hoàn cảnh và nhu cầu hỗ trợ của trẻ. Khi phát hiện dấu hiệu trẻ không được chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp hoặc có nguy cơ bị xâm hại, cơ quan có thẩm quyền cần phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan để kịp thời xác minh, hỗ trợ và áp dụng biện pháp bảo vệ trẻ em theo quy định pháp luật. Đồng thời, việc theo dõi phải bảo đảm quyền riêng tư, bí mật cá nhân, không gây cản trở không cần thiết đến đời sống gia đình.

“Quy định như vậy nhằm chuyển trọng tâm từ việc thực hiện nghĩa vụ báo cáo như dự thảo luật sang việc theo dõi, hỗ trợ và bảo vệ thực chất quyền, lợi ích của trẻ em”, đại biểu nhấn mạnh.
Một vấn đề khác được đại biểu lưu ý là căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi trong trường hợp cha mẹ nuôi mắc bệnh hiểm nghèo. Theo đại biểu, quy định này chưa hợp lý bởi mắc bệnh hiểm nghèo không đồng nghĩa với việc không còn khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con.
Nếu không được quy định chặt chẽ, việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi có thể diễn ra không cần thiết, ảnh hưởng đến sự ổn định của gia đình và quyền lợi của trẻ em. Do đó, đại biểu Nguyễn Tuấn Anh đề nghị sửa đổi điểm b khoản 1 Điều 27, đồng thời rà soát các Điều 26 và 29 để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em và tính thống nhất về hệ quả pháp lý khi chấm dứt việc nuôi con nuôi, đặc biệt đối với trường hợp người độc thân nhận con nuôi.


Liên quan đến hệ quả pháp lý của việc thu hồi, hủy bỏ quyết định nuôi con nuôi, đại biểu Lò Thị Huyền đề nghị phân định rõ hai tình huống: quyết định đã được ban hành nhưng trẻ chưa được giao nhận và trường hợp trẻ đã được giao nhận, quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi đã thực tế hình thành.
Theo đại biểu, nếu áp dụng chung hệ quả “không có hiệu lực kể từ thời điểm ban hành” cho cả hai trường hợp, có thể phát sinh bất ổn về nhân thân, hộ tịch, tài sản, thừa kế và người có trách nhiệm chăm sóc trẻ. Rủi ro này càng đáng lưu ý khi trẻ đã sống trong gia đình nhận nuôi nhiều năm.

