Thời sự Quốc hội

Bảo đảm tính thống nhất của pháp luật, tạo hành lang cho đổi mới sáng tạo

Tin; ảnh: Trọng Hiếu 04/08/2026 18:20

Thảo luận tại Tổ 10 (ĐBQH tỉnh Ninh Bình và Sơn La) về 3 dự án luật, nghị quyết quan trọng liên quan đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, sửa đổi Luật Dầu khí và cơ chế đặc thù xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ, các ý kiến đều nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện pháp luật theo hướng chặt chẽ, minh bạch; tạo hành lang pháp lý an toàn để khuyến khích đổi mới sáng tạo.

to-10.jpg
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh và các đại biểu dự phiên thảo luận tổ, chiều 4/8

Dự phiên thảo luận có Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng.

Bảo đảm thống nhất về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Góp ý về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát, ĐBQH Lê Thị Nga (Ninh Bình) tán thành với Phương án 2 trong dự thảo Luật. Theo đó, nguyên tắc áp dụng pháp luật đề nghị giữ như luật hiện hành: việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này để đảm bảo tính thống nhất trong quy định của pháp luật theo Kết luận số 9 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam.

to-10(1).jpg
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng và các đại biểu dự phiên thảo luận tổ

Bên cạnh đó, việc sửa đổi, bổ sung như dự thảo Luật mang tính chất quy định áp dụng pháp luật, không mang tính nguyên tắc áp dụng nên việc sửa đổi, bổ sung này chưa phù hợp. Đại biểu đề nghị những vấn đề liên quan đến trách nhiệm bồi thường nhà nước chỉ nên quy định trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, tránh mở rộng ra các luật chuyên ngành.

to-10(2).jpg
Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát, ĐBQH Lê Thị Nga (Ninh Bình) phát biểu
to-10(5).jpg
Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình Mai Văn Tuất điều hành phiên thảo luận

Đồng tình với quan điểm trên, ĐBQH Phạm Trọng Cường (Ninh Bình) nhấn mạnh, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 09 về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam trong đó đã xác định các quy phạm thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mang đặc trưng của quy phạm công. Do vậy, khoản 1 Điều 4 của dự thảo luật không phải là nguyên tắc áp dụng pháp luật, mà là nguyên tắc của hoạt động bồi thường Nhà nước.

to-10(3).jpg
ĐBQH Phạm Trọng Cường (Ninh Bình) phát biểu

Cũng cho ý kiến về nguyên tắc áp dụng pháp luật, ĐBQH Mai Thị Phương Hoa (Ninh Bình) cho rằng, dự thảo luật bổ sung nguyên tắc trong trường hợp luật khác có quy định về việc mở rộng phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước sẽ thực hiện trong luật chuyên ngành là không phù hợp. Bởi, Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước là luật chuyên ngành quy định đặc biệt liên quan đến phạm vi bồi thường nhà nước, cũng như thủ tục bồi thường nhà nước. Trường hợp nào Nhà nước cam kết bồi thường thì cần được quy định trong Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước; nếu các luật khác cũng quy định nội dung này sẽ không kiểm soát được những trường hợp nào nhà nước sẽ bồi thường, gây khó khăn trong quá trình áp dụng và tuân thủ pháp luật.

Đối với khái niệm người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tại khoản 1 Điều 1 dự thảo luật quy định: Người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là cá nhân thực hiện phản ánh, tố cáo, tố giác hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao, trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.

Đại biểu Lê Thị Nga cho rằng, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định các trường hợp phản ánh, tố cáo và báo cáo về hành vi tham nhũng có quy định về quyền phản ánh hành vi tham nhũng của cá nhân, tổ chức. Do đó, Cơ quan chủ trì soạn thảo cần bổ sung trường hợp báo cáo hành vi tham nhũng, bổ sung chủ thể phản ánh hành vi tham nhũng là tổ chức cho phù hợp với quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng, để đảm bảo thống nhất giữa Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Luật Phòng, chống tham nhũng.

to-10(4).jpg
ĐBQH Trần Văn Khải (Ninh Bình) phát biểu

Về phạm vi trách nhiệm bồi thường Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tại khoản 6 Điều 1 của dự thảo luật, đại biểu Lê Thị Nga cho biết, dự thảo luật sửa đổi khoản 9 Điều 17 của Luật Bồi thường Nhà nước: Thực hiện hành vi trái pháp luật trong hoạt động quản lý thuế và các khoản thu khác theo Luật Quản lý thuế.

Đại biểu Lê Thị Nga đề nghị giữ như quy định của luật hiện hành, chỉ giới hạn trong phạm vi 4 nhóm hành vi thuộc trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực thuế gồm: áp dụng thuế, phí, lệ phí trái pháp luật; thu thuế, phí, lệ phí trái pháp luật; truy thu thuế, hoàn thuế trái pháp luật; thu tiền sử dụng đất trái pháp luật.

Đại biểu cho biết, dự thảo Luật đã mở rộng từ 4 nhóm hành vi phải bồi thường lên 10 nhóm hành vi quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 của Luật Quản lý thuế, nhưng chưa được đánh giá tác động đầy đủ về ngân sách nhà nước, nguồn nhân lực và hiệu quả quản lý thuế, nên chưa đủ cơ sở để bổ sung vào dự thảo Luật, do đó chưa nên mở rộng từ 4 nhóm hành vi lên 10 nhóm hành vi phải bồi thường.

Cho ý kiến về lập dự toán và quyết toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường ở khoản 29 Điều 1, đại biểu Lê Thị Nga nêu thực tiễn hiện nay có một số cơ quan nhà nước nhiều năm không phát sinh việc yêu cầu bồi thường, nên khi lập dự toán đầu năm không có cơ sở để bổ sung mục. Vì vậy, để phù hợp với thực tiễn, đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc quy định theo hướng giao Bộ Tài chính ở Trung ương, Sở Tài chính ở địa phương lập dự toán kinh phí bồi thường của cơ quan giải quyết bồi thường từ ngân sách trung ương và địa phương như luật hiện hành, đảm bảo hiệu quả thực thi và giảm các thủ tục hành chính.

3w2a3894(1).jpg
Các đại biểu tham dự thảo luận tại Tổ 10

Về hồ sơ yêu cầu bồi thường tại khoản 12 của Điều 1, đại biểu Lê Thị Nga tán thành với quy định về gửi yêu cầu bồi thường được thực hiện trên môi trường số, đảm bảo phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Tuy nhiên, đây mới chỉ là quy định về việc tiếp nhận hồ sơ yêu cầu bồi thường qua môi trường số. Dự thảo Luật chưa có quy định về xử lý, giải quyết hồ sơ trên môi trường số theo quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật Giao dịch điện tử. Theo đó, cơ quan nhà nước phải tiếp nhận, giải quyết yêu cầu của tổ chức, cá nhân trên môi trường điện tử. Do đó, đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo bổ sung nội dung này, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện thủ tục hành chính.

to-10(6).jpg
ĐBQH Tráng A Tếnh (Sơn La) phát biểu

Đồng tình với quan điểm trên, ĐBQH Tráng A Tếnh (Sơn La) đề nghị cần xác định rõ cơ quan cấp trên trực tiếp bồi thường, bởi hiện nay có các cơ quan cấp huyện đã giải thể nên người dân chưa rõ cơ quan cấp trên trực tiếp giải quyết bồi thường là cơ quan nào. Ngoài ra, đại biểu cũng nêu thực tế một số trường hợp vi phạm an toàn giao thông có người nhận tội thay, nếu phát hiện oan sai sẽ không thuộc trách nhiệm bồi thường nhà nước, mà cần quy trách nhiệm cho những người nhận tội thay.

Lượng hóa tiêu chí để cơ chế đặc thù đi vào cuộc sống

Góp ý vào dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, các đại biểu cơ bản thống nhất với sự cần thiết ban hành Nghị quyết này. Đây là một dự thảo Nghị quyết có tính chất đặc thù, tác động trực tiếp đến cơ chế xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là có cơ chế tháo gỡ, mà còn phải bảo đảm chặt chẽ về kỹ thuật lập pháp, rõ ràng về điều kiện áp dụng và minh bạch về hệ quả pháp lý.

to-10(7).jpg
ĐBQH Mai Thị Phương Hoa (Ninh Bình) phát biểu

ĐBQH Mai Thị Phương Hoa (Ninh Bình) khẳng định, việc Quốc hội cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ đổi mới sáng tạo và chuyển số rất quan trọng, rất kịp thời nhằm thể chế hóa đường lối của Đảng liên quan đến xử lý vấn đề liên quan kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân, cần được ban hành sớm để xử lý những khó khăn, vướng mắc của các địa phương, các bộ ngành, tháo gỡ điểm nghẽn, tạo động lực phát triển đất nước.

Góp ý quy định về phạm vi điều chỉnh của dự thảo nghị quyết, đại biểu Mai Thị Phương Hoa cho biết, phạm vi điều chỉnh liên quan đến ba lĩnh vực là kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, đại biểu băn khoăn về cụm từ “ứng dụng” trong nhóm lĩnh vực ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vì lợi ích chung. Bởi theo Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, thì hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có 9 nhóm, ứng dụng chỉ là một trong 9 nhóm, nhưng dự thảo Nghị quyết chỉ điều chỉnh nhóm ứng dụng thì chưa đủ rộng, bao quát. Để đảm bảo đồng bộ và thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo hơn nữa, đại biểu đề nghị, ngoài việc ứng dụng, cũng cần mở rộng ra hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm.

3w2a3924(3).jpg
ĐBQH Lê Văn Thế (Ninh Bình) phát biểu

Về nguyên tắc thực hiện quy định tại Điều 3, dự thảo Nghị quyết có quy định là khuyến khích bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, đại biểu cho rằng, quy định này đã cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, nhưng đặt trong bối cảnh chúng ta đang khuyến khích kinh tế tư nhân, liệu có được áp dụng cơ chế chính sách đặc thù đối với khu vực tư nhân hay không?...

Đại biểu Lê Văn Thế (Ninh Bình) cho biết, Điều 4 của dự thảo Nghị quyết sử dụng nhiều khái niệm rất quan trọng nhưng còn mang tính mở như “vì lợi ích chung”, “không tham nhũng”, “hậu quả thiệt hại”, “hiệu quả kinh tế - xã hội”, “không có khiếu nại, tố cáo”. Đây đều là những khái niệm có ý nghĩa chính sách, nhưng nếu chưa được lượng hóa thì rất dễ áp dụng khác nhau giữa các cơ quan, các địa phương, thậm chí giữa các vụ việc tương tự. Về kỹ thuật lập pháp, quy định nào càng dẫn đến hệ quả pháp lý nghiêm trọng thì càng phải có tiêu chí rõ. Nếu chỉ mô tả bằng ngôn ngữ định hướng rồi giao cho các cơ quan thực thi tự hiểu, thì sẽ làm giảm tính dự báo của pháp luật và dễ phát sinh cách hiểu tùy nghi.

to-10(8).jpg
ĐBQH Nguyễn Thành Công (Ninh Bình) phát biểu

Do đó, đại biểu đề nghị Điều 4 cần được chỉnh theo hướng bổ sung thêm các tiêu chí nhận diện tối thiểu. Chẳng hạn, “vì lợi ích chung” phải được hiểu là hành vi được thực hiện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao, vì phục vụ lợi ích của quốc gia, dân tộc, cộng đồng, của ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị, của doanh nghiệp, vì mục đích phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; không nhằm thu lợi cá nhân, không làm phát sinh lợi ích nhóm, không có động cơ vụ lợi, có căn cứ, có hồ sơ và có thể kiểm tra, đối chiếu được. Tương tự, các từ ngữ khác cũng cần được xác định theo dấu hiệu pháp lý cụ thể. Đại biểu cho rằng, nếu lượng hóa Điều 4 cụ thể hơn thì toàn bộ các điều sau của Nghị quyết sẽ vận hành thống nhất và thuận lợi hơn.

Đại biểu cũng đề nghị sửa Điều 5 dự thảo Nghị quyết theo hướng bỏ điều kiện “Người thực hiện hành vi vi phạm đã khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và xử lý tội phạm”. Vì điều kiện này không thật sự phù hợp với bản chất của chính sách mà Nghị quyết đang hướng tới.

Đại biểu Lê Văn Thế phân tích: Tinh thần của Nghị quyết là khuyến khích, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, trong điều kiện có rủi ro khách quan và có thiện chí thực hiện nhiệm vụ. Còn việc người vi phạm khai báo, hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng là nội dung đã được pháp luật hình sự và tố tụng hình sự điều chỉnh bằng các chế định riêng; không nên đưa trở lại như một điều kiện bắt buộc để được không truy cứu trách nhiệm hình sự.

3w2a3930(3).jpg
ĐBQH Nguyễn Hải Dũng (Ninh Bình) phát biểu

Nếu giữ quy định này, chính sách của Nghị quyết có nguy cơ sẽ bị dịch chuyển từ cơ chế bảo vệ người đổi mới, dám nghĩ, dám làm sang cơ chế thưởng cho việc hợp tác sau khi vi phạm đã bị phát hiện. Vì vậy, đại biểu đề nghị bỏ khoản 6 Điều 5.

Theo đó, Điều 5 chỉ nên tập trung vào các điều kiện cốt lõi như: không tham nhũng; vì lợi ích chung; đã hoàn thành hoạt động và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội; không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã giải quyết dứt điểm; không gây thất thoát, lãng phí hoặc đã khắc phục toàn bộ hậu quả.

3w2a3879(1).jpg
Toàn cảnh thảo luận tại Tổ 10

Về trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện cam kết, tiến độ khắc phục hậu quả, khoản 5 Điều 9 dự thảo nghị quyết quy định: “5. Trong thời gian tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện cam kết, tiến độ khắc phục hậu quả của tổ chức, cá nhân được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Đại biểu băn khoăn, vấn đề đặt ra là tần suất định kỳ kiểm tra, đánh giá tiến độ khắc phục hậu quả là như thế nào, để hết thời gian tạm hoãn thì tiến hành kiểm tra, giám sát hay theo định kỳ. Do vậy, đề nghị Cơ quan soạn thảo bổ sung quy định về kiểm tra, đánh giá tiến độ khắc phục hậu quả theo quy định cụ thể của Chính phủ. Việc quy định cụ thể nhằm tránh tình trạng cơ quan tiến hành tố tụng “bỏ quên” vụ việc sau khi ra quyết định tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời theo dõi sát sao, kịp thời phát hiện việc trì hoãn hoặc có hành vi tẩu tán tài sản, bỏ trốn, đồng thời cũng thúc đẩy cá nhân, tổ chức tích cực hoàn thành cam kết để nhận được sự khoan hồng của pháp luật.

    Bảo đảm tính thống nhất của pháp luật, tạo hành lang cho đổi mới sáng tạo
    • Mặc định