Bảo đảm minh bạch trách nhiệm, giảm chi phí tuân thủ
Sửa đổi Luật Hải quan không chỉ nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; thích ứng với sự phát triển của thương mại điện tử xuyên biên giới mà còn phải bảo đảm minh bạch trách nhiệm, giảm chi phí tuân thủ và thống nhất với các luật có liên quan... Đây là những nội dung được các đại biểu Đoàn ĐBQH các tỉnh Nghệ An và Lâm Đồng nhấn mạnh khi thảo luận tại Tổ 7 (chiều 3/8), về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan.
_watermarked(2).jpg)
Thông quan nhanh nhưng không nới lỏng quản lý
Về quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử, ĐBQH Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) đề nghị bổ sung cơ chế thông quan rút gọn đối với hàng hóa có giá trị thấp... Theo đại biểu, giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới thường có số lượng lớn nhưng giá trị từng đơn hàng thấp. Nếu áp dụng cùng yêu cầu về hồ sơ, trình tự và thời gian xử lý như đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thông thường sẽ làm tăng chi phí tuân thủ, đồng thời tạo áp lực cho cơ quan hải quan và doanh nghiệp vận chuyển.
Đại biểu đề nghị giao Chính phủ quy định cụ thể tiêu chí xác định hàng hóa giá trị thấp, hồ sơ, thủ tục, phương thức kiểm tra, giám sát, các trường hợp không được áp dụng và biện pháp phòng ngừa việc chia nhỏ lô hàng để lợi dụng chính sách. Việc đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với miễn kiểm tra, giám sát hoặc mặc nhiên miễn nghĩa vụ thuế.
Bên cạnh đó, dự thảo cũng cần làm rõ việc xác thực định danh điện tử được thực hiện một lần hay theo từng giao dịch; bảo đảm kết quả xác thực hợp lệ được sử dụng cho các giao dịch tiếp theo, tránh thực hiện trùng lặp trên nhiều hệ thống. Đồng thời, cần thống nhất thuật ngữ về xác thực điện tử với Luật Thương mại điện tử và pháp luật về định danh, xác thực điện tử.

Đối với hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, đại biểu đề nghị phân định rõ trách nhiệm tổ chức tiêu hủy và trách nhiệm chịu chi phí của doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng; quy định cụ thể cơ chế tạm ứng, thanh toán và hoàn trả chi phí...
Ủng hộ việc xác thực định danh người mua hàng qua nền tảng thương mại điện tử nhằm xử lý tình trạng hàng hóa vi phạm bị từ chối nhận do chưa xác định rõ chủ thể, song ĐBQH Trần Hồng Nguyên (Lâm Đồng) cho rằng: cần áp dụng cơ chế xác thực một lần và thông quan rút gọn để tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.
Cùng với đó, đại biểu đề nghị rà soát quy định về tuyến đường vận chuyển để bảo đảm thống nhất với Luật Quản lý ngoại thương; đồng thời làm rõ căn cứ xác định hàng hóa phải kiểm định, tiêu chí phân biệt giữa kiểm định hải quan và kiểm tra chuyên ngành, cũng như giá trị pháp lý của kết quả kiểm định.

Góp ý về đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật hải quan, ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An) cho rằng: quy định này nhằm khuyến khích doanh nghiệp tự nguyện tuân thủ pháp luật hải quan, tạo lợi thế khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và nâng cao vị thế của doanh nghiệp. Đây cũng là quy định có tác động rất lớn đến hoạt động của doanh nghiệp.
Khoản 3 Điều 17 quy định cơ quan hải quan ưu tiên thực hiện thủ tục hải quan; miễn, giảm kiểm tra, giám sát hải quan, kiểm tra sau thông quan và các hoạt động nghiệp vụ khác đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của người khai hải quan tuân thủ tốt pháp luật. Đồng thời, cơ quan hải quan tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý kịp thời đối với những trường hợp không tuân thủ.
Như vậy, dự thảo Luật quy định hai hướng rất rõ: người khai hải quan tuân thủ tốt pháp luật sẽ được ưu tiên; trường hợp tuân thủ không tốt sẽ bị tăng cường kiểm tra, giám sát. Do đó, kết quả đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của cơ quan hải quan đối với người khai hải quan có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa bổ sung quyền của người khai hải quan được biết kết quả đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của cơ quan hải quan, cũng như cơ chế để người khai hải quan giải trình, khiếu nại hoặc đề nghị xem xét lại kết quả đánh giá khi có căn cứ cho rằng kết quả đó chưa chính xác.

Theo đại biểu Trần Nhật Minh, Điều 18 Luật Hải quan hiện hành quy định về quyền của người khai hải quan nhưng tại điểm a khoản 1 mới quy định người khai hải quan có quyền được cơ quan hải quan cung cấp thông tin liên quan đến việc khai hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải; được hướng dẫn làm thủ tục hải quan và phổ biến pháp luật hải quan. Như vậy, chưa có quy định về quyền được biết kết quả đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật.
Tương tự, điểm e khoản 1 Điều 18 mới quy định người khai hải quan có quyền khiếu nại, tố cáo hành vi trái pháp luật của cơ quan hải quan, công chức hải quan, nhưng chưa quy định quyền khiếu nại đối với kết quả đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật.
Do dự thảo Luật chỉ bổ sung Điều 17a mà không sửa đổi Điều 18, đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 17a một khoản quy định quyền của người khai hải quan được cơ quan hải quan cung cấp thông tin về kết quả đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật và được khiếu nại kết quả đánh giá khi có căn cứ cho rằng kết quả đó chưa chính xác.
Về đại lý làm thủ tục hải quan, đại biểu bày tỏ nhất trí với nội dung sửa đổi, bổ sung Điều 20 Luật Hải quan tại khoản 7 Điều 1 dự thảo Luật. Tuy nhiên, Luật hiện hành và dự thảo Luật chưa có quy định về cơ chế tài chính đối với giá dịch vụ làm thủ tục hải quan và các thủ tục hành chính liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.
Để bảo đảm tính chặt chẽ của pháp luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định: giá dịch vụ làm thủ tục hải quan và các thủ tục hành chính liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh do chủ hàng hóa, chủ phương tiện vận tải và đại lý làm thủ tục hải quan thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ làm thủ tục hải quan.
_watermarked(1).jpg)
Theo đại biểu, việc bổ sung quy định này sẽ tạo căn cứ để đại lý làm thủ tục hải quan thực hiện dịch vụ và được thu giá dịch vụ theo thỏa thuận.
Về kiểm tra sau thông quan, khoản 24 Điều 1 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 77 theo hướng: “Kiểm tra sau thông quan được thực hiện trong phạm vi tối đa là 5 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan đến ngày ban hành quyết định kiểm tra sau thông quan”.
Qua nghiên cứu khoản 1 Điều 77 về khái niệm kiểm tra sau thông quan, đại biểu Trần Nhật Minh cho rằng nội dung này thực chất là quy định về thời hiệu kiểm tra sau thông quan. Luật hiện hành sử dụng thuật ngữ “thời hạn”; dự thảo đã bỏ thuật ngữ này nhưng lại không quy định trực tiếp là “thời hiệu”, khiến cách diễn đạt tại khoản 4 khá dài dòng, phức tạp.
Theo quy định của dự thảo, phạm vi 5 năm được xác định bởi hai mốc thời gian: mốc bắt đầu là ngày đăng ký tờ khai hải quan và mốc sau cùng là ngày ban hành quyết định kiểm tra sau thông quan. Cách quy định này có thể được hiểu là việc kiểm tra sau thông quan phải được thực hiện trong phạm vi tối đa 5 năm.
Đại biểu cho rằng quy định như vậy có thể gây khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Trường hợp quyết định kiểm tra sau thông quan được ban hành vào những tháng cuối của thời hạn 5 năm thì việc tiến hành kiểm tra có thể vượt ra ngoài phạm vi 5 năm, trong khi các công việc kiểm tra chỉ được thực hiện sau khi có quyết định kiểm tra.
Do đó, đại biểu đề nghị khoản 4 Điều 77 chỉ cần quy định ngắn gọn: “Thời hiệu kiểm tra sau thông quan là 5 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan”.
“Cách quy định này cụ thể, rõ ràng hơn và tránh khó khăn trong quá trình thực hiện”, đại biểu Trần Nhật Minh nhấn mạnh.
.jpg)
Đề cập việc luân chuyển hàng hóa giữa các doanh nghiệp chế xuất trong cùng một khu chế xuất, ĐBQH Hoàng Minh Hiếu (Nghệ An) cho biết, theo quy định hiện hành của Luật Hải quan, khi luân chuyển hàng hóa giữa các chi nhánh của cùng một doanh nghiệp hoặc giữa các doanh nghiệp trong cùng một khu chế xuất, doanh nghiệp vẫn phải thực hiện đầy đủ thủ tục hải quan.
Theo đại biểu, quy định này có thể ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của doanh nghiệp và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Chẳng hạn, các chi nhánh của cùng một doanh nghiệp chế xuất trong cùng một khu chế xuất thuộc cùng một chủ sở hữu nhưng vẫn phải thực hiện thủ tục hải quan tương tự thủ tục nhập khẩu ban đầu.
Từ thực tế này, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định theo hướng hàng hóa luân chuyển trong nội bộ cùng một doanh nghiệp có thể được miễn khai báo hải quan. Đối với hàng hóa luân chuyển giữa các doanh nghiệp trong cùng một khu chế xuất, cùng chịu sự quản lý của một cơ quan hải quan, có thể cân nhắc giảm nhẹ thủ tục khai báo, chẳng hạn thực hiện khai báo bằng hình thức điện tử. Qua đó, giảm thủ tục hải quan và tạo thêm điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động.
Về kỹ thuật lập pháp, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục cân nhắc, làm rõ một số quy định trong dự thảo Luật. Cụ thể, tại khoản 10 và khoản 14, dự thảo Luật sửa đổi các quy định liên quan đến “kho hải quan” và giải trình rằng việc sửa đổi nhằm bảo đảm phù hợp với Luật Quản lý ngoại thương và Luật Thương mại. Tuy nhiên, Luật Quản lý ngoại thương và Luật Thương mại không sử dụng khái niệm “kho hải quan” mà sử dụng thuật ngữ “khu vực hải quan riêng”.
_watermarked(1).jpg)
Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét, rà soát “kho hải quan” trong dự thảo Luật có tương ứng với “khu vực hải quan riêng” được quy định trong Luật Quản lý ngoại thương và Luật Thương mại hay không.
Liên quan đến khái niệm người khai hải quan tại khoản 14 Điều 4, đại biểu cho rằng dự thảo đã bổ sung một số đối tượng phù hợp với xu hướng hiện nay, trong đó có chủ quản nền tảng thương mại điện tử.
Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung thêm một số đối tượng, trong đó có chủ quản sở giao dịch hàng hóa. Qua khảo sát các quy định về giao dịch hàng hóa phái sinh, đại biểu nhận thấy các sở giao dịch hàng hóa có nhu cầu trở thành người khai hải quan đối với hàng hóa được mua bán giữa các doanh nghiệp thông qua sở giao dịch hàng hóa.
Theo đại biểu, nội dung này đã được quy định trong nghị định. Vì vậy, cơ quan soạn thảo có thể cân nhắc bổ sung chủ quản sở giao dịch hàng hóa vào nhóm người khai hải quan, tạo điều kiện cho hàng hóa mua bán qua sở giao dịch hàng hóa được lưu thông qua biên giới.

Phát biểu tại tổ, ĐBQH Thái Thị An Chung (Nghệ An) tham gia ý kiến đối với nội dung kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử tại Điều 16a.
Liên quan đến việc người mua và người bán phải thực hiện xác thực điện tử trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, đại biểu cho rằng đối với người bán, trách nhiệm xác thực điện tử là đương nhiên. Đối với người mua, việc xác thực cũng phù hợp, xuất phát từ thực tiễn hiện nay có rất nhiều hàng hóa được giao dịch xuyên biên giới, trong đó phát sinh những vi phạm, kể cả những vi phạm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.
Đồng tình với yêu cầu xác thực, song đại biểu cho rằng cần cân nhắc nếu áp dụng đối với toàn bộ người mua. Thực tế hiện nay, số lượng hàng hóa giao dịch xuyên biên giới rất lớn, trong khi trên 90% giao dịch thương mại điện tử có giá trị nhỏ, chủ yếu là hàng hóa tiêu dùng thông thường và có mức độ rủi ro thấp. Nếu yêu cầu toàn bộ người mua phải xác thực danh tính điện tử, chi phí xử lý sẽ rất lớn, trong khi giá trị quản lý mang lại không nhiều.
Yêu cầu toàn bộ người mua xác thực danh tính điện tử cũng có thể làm gia tăng rủi ro về dữ liệu cá nhân. Khi lưu lượng dữ liệu rất lớn, nguy cơ rò rỉ dữ liệu sẽ tăng lên, đồng thời chi phí bảo mật cũng tăng theo.
Bên cạnh đó, quy định này có thể ảnh hưởng đến lợi thế của thương mại điện tử. Đặc trưng của thương mại điện tử là đăng ký nhanh, mua nhanh và thanh toán nhanh. Nếu đặt thêm yêu cầu xác thực, người mua có thể cảm thấy rắc rối, mất thời gian, từ đó dẫn đến tâm lý bỏ giỏ hàng.
Vì vậy, đại biểu Thái Thị An Chung đề nghị chỉ yêu cầu người mua xác thực danh tính điện tử trong những trường hợp cần thiết, căn cứ vào yêu cầu quản lý rủi ro; giá trị giao dịch, trong đó tập trung vào những giao dịch có giá trị lớn; tính chất hàng hóa thuộc diện cần quản lý như thuốc, hóa chất hoặc các loại thực phẩm đặc biệt; và yêu cầu của pháp luật chuyên ngành.
Đại biểu cũng cho rằng nội dung này nên được giao Chính phủ quy định chi tiết để phù hợp hơn.
.jpg)
Quy định theo hướng này sẽ bảo đảm nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động hải quan; giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, đặc biệt đối với các giao dịch có giá trị nhỏ; đồng thời phù hợp với xu thế quốc tế là tập trung quản lý người bán, các nền tảng thương mại điện tử và chủ thể chịu trách nhiệm khai báo hải quan, thay vì quản lý tất cả các đối tượng.
Phân định rõ thẩm quyền, không để khoảng trống tại khu vực biên giới
Tiếp cận dự thảo Luật từ góc độ tác động đối với quốc phòng, an ninh, ĐBQH Ngô Nam Cường (Nghệ An) cho rằng một số nội dung cần tiếp tục được rà soát kỹ lưỡng để bảo đảm thống nhất với hệ thống pháp luật về bảo vệ biên giới.
Về địa bàn hoạt động của Hải quan, đại biểu cho rằng: Hải quan và Bộ đội Biên phòng cùng thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại khu vực cửa khẩu nhưng theo các nhóm đối tượng khác nhau: Bộ đội Biên phòng quản lý người, phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh; Hải quan quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Việc mở rộng địa bàn hoạt động của Hải quan nếu không được phân định rõ có thể dẫn đến chồng lấn thẩm quyền tại khu vực biên giới. Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc: việc xác định địa bàn hoạt động hải quan tại khu vực biên giới phải tuân thủ, thống nhất với Luật Biên phòng Việt Nam và các điều ước quốc tế về quản lý biên giới mà Việt Nam là thành viên.
Theo đại biểu, đây là nội dung cần được quy định ngay trong Luật, không nên để văn bản dưới luật hướng dẫn.
.jpg)
Về kiểm định và đánh giá tiêu chí kỹ thuật, ĐBQH cho rằng: dự thảo chưa quy định thời hạn đối với việc đánh giá lại và đánh giá bổ sung. Điều này có thể kéo dài thời gian thông quan, gây hư hỏng hàng hóa và làm phát sinh chi phí lưu kho, lưu bãi cho doanh nghiệp.
Do đó, đại biểu đề nghị quy định thời hạn bắt buộc hoàn thành các bước đánh giá, có thể nghiên cứu khoảng từ 5 đến 7 ngày; đồng thời làm rõ trách nhiệm pháp lý trong trường hợp kết quả giám định sai lệch, gây thiệt hại cho doanh nghiệp hoặc người khai hải quan.
Về thẩm quyền chủ động tạm dừng hàng hóa quá cảnh nghi giả mạo quyền sở hữu trí tuệ và mô hình Hải quan là đầu mối duy nhất trong kiểm tra chuyên ngành, đại biểu cho rằng cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tại cửa khẩu biên giới đất liền, bảo đảm an ninh, trật tự và tránh ùn tắc.
Đại biểu đề nghị quy định cơ quan hải quan có trách nhiệm thông báo, phối hợp với lực lượng Bộ đội Biên phòng khi thực hiện tạm dừng hàng hóa quá cảnh tại cửa khẩu biên giới đất liền. Việc áp dụng mô hình “đầu mối duy nhất” cũng cần bảo đảm đồng bộ với các điều ước, thỏa thuận quốc tế có liên quan.
Đối với công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, đại biểu cho rằng dự thảo chưa thể hiện tương xứng vai trò của Bộ đội Biên phòng. Đây là lực lượng thường trực, chủ trì công tác tuần tra, kiểm soát biên giới và phối hợp với các lực lượng liên quan trong thực hiện nhiệm vụ.
Vì vậy, đại biểu đề nghị hoàn thiện dự thảo Luật theo hướng quy định cơ chế phối hợp giữa ba lực lượng: Hải quan, Công an và Bộ đội Biên phòng, thay vì chỉ tập trung vào cơ chế phối hợp giữa Hải quan và Công an.
Đánh giá những đổi mới trong dự thảo Luật về quản lý rủi ro, chuyển đổi số và thương mại điện tử đã thể hiện tinh thần kiến tạo phát triển, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tuy nhiên, đại biểu Ngô Nam Cường cũng cho rằng, việc hoàn thiện Luật cần đồng thời bảo đảm sự thống nhất, chặt chẽ với pháp luật về quốc phòng, an ninh và bảo vệ biên giới.

