Khoa học - Công nghệ

Bài cuối: Đưa đột phá chiến lược thành động lực tăng trưởng thực chất

Chí Tuấn - Đào Cảnh - Trần Tâm - Diệp Anh - Khánh Duy • 30/10/2026 16:34

Từ những chuyển biến trong sản xuất, kinh doanh và quản trị nhà nước đến các điểm nghẽn về dữ liệu, nguồn lực và cách tổ chức thực hiện, thực tiễn cho thấy chuyển đổi số chỉ phát huy vai trò khi được chuyển hóa thành năng suất, hiệu quả và giá trị kinh tế. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, nhiệm vụ đặt ra là đưa những định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW vào đời sống bằng các giải pháp đồng bộ về thể chế, hạ tầng, dữ liệu, doanh nghiệp, nhân lực và trách nhiệm thực thi.

Bài cuối: Đưa đột phá chiến lược thành động lực tăng trưởng thực chất
Bài cuối: Đưa đột phá chiến lược thành động lực tăng trưởng thực chất

Từ những chuyển biến trong sản xuất, kinh doanh và quản trị nhà nước đến các điểm nghẽn về dữ liệu, nguồn lực và cách tổ chức thực hiện, thực tiễn cho thấy chuyển đổi số chỉ phát huy vai trò khi được chuyển hóa thành năng suất, hiệu quả và giá trị kinh tế. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, nhiệm vụ đặt ra là đưa những định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW vào đời sống bằng các giải pháp đồng bộ về thể chế, hạ tầng, dữ liệu, doanh nghiệp, nhân lực và trách nhiệm thực thi.

Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu triển khai Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số, tạo chuyển biến mạnh mẽ, đưa chuyển đổi số đi vào thực chất
Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu triển khai Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số, tạo chuyển biến mạnh mẽ, đưa chuyển đổi số đi vào thực chất

Từ đột phá thể chế đến quản trị thống nhất bằng dữ liệu

Một trong những vấn đề nổi lên trong quá trình chuyển đổi số là sự phân tán nguồn lực đầu tư và thiếu liên thông giữa các hệ thống. Khi các cơ quan, địa phương phát triển nền tảng riêng lẻ, dữ liệu khó chia sẻ, chi phí vận hành tăng, còn người dân và doanh nghiệp có thể tiếp tục phải cung cấp lại những thông tin đã có. Tình trạng ấy không chỉ làm giảm hiệu quả đầu tư công nghệ mà còn thu hẹp tác động của chuyển đổi số đối với tăng trưởng.

Những điểm nghẽn được nhận diện từ thực tiễn càng cho thấy sự cần thiết của các định hướng trong Nghị quyết 57 và Nghị quyết 19. Nghị quyết 57 đặt vấn đề đột phá về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; Nghị quyết 19 nhấn mạnh đổi mới phương thức quản trị, vận hành quốc gia và hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực. Muốn thực hiện đồng thời hai yêu cầu này, chuyển đổi số phải vượt qua cách làm theo từng dự án rời rạc để trở thành quá trình tổ chức lại hoạt động trên nền tảng dữ liệu liên thông.

Bài cuối: Đưa đột phá chiến lược thành động lực tăng trưởng thực chất
Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số được xác định là đợt cao điểm nhằm tạo bước chuyển mạnh mẽ, đưa chuyển đổi số đi vào thực chất
Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số được xác định là đợt cao điểm nhằm tạo bước chuyển mạnh mẽ, đưa chuyển đổi số đi vào thực chất

Một bước cụ thể hóa thể chế quan trọng là Quyết định số 1425/QĐ-TTg ngày 29/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số phiên bản 1.0. Khung kiến trúc là căn cứ để xây dựng, phát triển, nâng cấp và vận hành hạ tầng, hệ thống, nền tảng, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số trong toàn hệ thống chính trị, theo nguyên tắc đồng bộ, kết nối, chia sẻ, dùng chung và hạn chế đầu tư trùng lặp. Đằng sau một cấu trúc công nghệ là yêu cầu thống nhất cách tổ chức nguồn lực và phân định trách nhiệm giữa các cấp.

Theo Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia Trần Duy Ninh, khung kiến trúc không đơn thuần là sơ đồ công nghệ hay danh mục phần mềm, mà là công cụ quản trị phát triển số. Định hướng triển khai là Trung ương cung cấp các thành phần dùng chung theo phân công; các bộ, ngành phát triển thành phần chuyên ngành; cấp tỉnh tổ chức tích hợp, vận hành; cấp xã khai thác nền tảng chung để phục vụ người dân, doanh nghiệp, tránh tự đầu tư những hệ thống trùng lặp.

Cục trưởng Trần Duy Ninh cho biết, theo lộ trình, các cơ quan, địa phương tiến hành rà soát hiện trạng trong tháng 10 - 11/2026, xác định phương án kiến trúc mục tiêu vào tháng 12/2026 và hoàn thiện Khung kiến trúc cấp mình trước ngày 29/1/2027. Nhưng mốc hoàn thành văn bản không phải đích cuối cùng. Điều cần kiểm chứng là các hệ thống có thực sự kết nối, dữ liệu có được tái sử dụng, quy trình công việc có được rút ngắn và người sử dụng có nhận được lợi ích hay không.

Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) Trần Duy Ninh trình bày tham luận
Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) Trần Duy Ninh
Những chuyển dịch cần phải đạt khi thực thi Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số
Những chuyển dịch cần phải đạt khi thực thi Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số. Ảnh: Đào Cảnh

Tinh thần lấy kết quả thực chất làm thước đo cũng được nêu trong kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc sơ kết một năm 6 tháng thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. Tư tưởng xuyên suốt là nhiệm vụ phải đi tới sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng, người sử dụng thực tế và hiệu quả có thể đo lường; không thể coi số lượng kế hoạch, văn bản hoặc hệ thống đã xây dựng là kết quả cuối cùng.

Từ góc độ quản lý và giám sát nguồn lực đầu tư, PGS.TS. Bùi Văn Dũng, Ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội đề nghị coi ngân sách dành cho chuyển đổi số là vốn đầu tư phát triển có mục tiêu và trách nhiệm giải trình. Việc quyết định đầu tư cần dựa trên bài toán cần giải quyết, đối tượng thụ hưởng, chi phí toàn vòng đời, khả năng liên thông và kết quả dự kiến. Nghiệm thu không chỉ xác nhận hệ thống vận hành đúng kỹ thuật mà còn phải theo dõi những thay đổi về năng suất, thời gian, chi phí và chất lượng phục vụ.

Như vậy, yêu cầu đổi mới thể chế phải gắn với đổi mới phương thức tổ chức thực thi, công khai trách nhiệm, bảo đảm chuẩn dữ liệu, ưu tiên nền tảng dùng chung, đồng thời xây dựng cơ chế đánh giá và điều chỉnh sau đầu tư. Khi trách nhiệm được xác định đến từng cơ quan, từng nhiệm vụ và kết quả được lượng hóa, nguồn lực số mới có điều kiện phát huy hiệu quả ở quy mô toàn quốc.

Hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách về chuyển đổi số cơ bản đã được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số
Hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách về chuyển đổi số cơ bản đã được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số

Mở đường để công nghệ đi sâu vào nền kinh tế

Nếu chuyển đổi số trong khu vực công tạo điều kiện tiết kiệm chi phí xã hội và nâng cao hiệu lực quản trị, thì động lực tăng trưởng lâu dài còn phụ thuộc vào mức độ công nghệ thâm nhập hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây chính là khâu nối giữa yêu cầu phát triển năng lực công nghệ theo Nghị quyết 57 với nhiệm vụ đổi mới mô hình phát triển theo Nghị quyết 19, làm cho năng suất, tri thức và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành nguồn tạo giá trị gia tăng chủ yếu hơn của nền kinh tế.

Thứ trưởng Bộ KHCN Phạm Đức Long phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Mỹ Hanh
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Đức Long

“

Đào tạo kỹ năng số phải gắn với những công việc cụ thể, để cán bộ cơ sở, người lao động và hộ kinh doanh có thể trực tiếp sử dụng, vận hành nền tảng, thay vì chỉ hoàn thành các khóa tập huấn mang tính hình thức"

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Đức Long

Từ thực tiễn triển khai, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Đức Long cho rằng cần thay đổi cách thức thúc đẩy chuyển đổi số theo hướng xuất phát từ những bài toán cụ thể của người dân, doanh nghiệp và địa phương, thay vì lựa chọn công nghệ trước rồi mới tìm nhu cầu ứng dụng. Theo đó, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tổng hợp những bài toán đã được giải quyết thành các bộ ứng dụng để địa phương lựa chọn phù hợp với nhu cầu thực tế, đánh giá hiệu quả trước khi nhân rộng.

Hiện, Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thành bộ công cụ 13 ứng dụng hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số và định hướng đánh giá các sản phẩm theo hiệu quả thực tế trước khi giới thiệu, nhân rộng. Tuy nhiên, việc lựa chọn sản phẩm và doanh nghiệp công nghệ đồng hành phải dựa trên khả năng tạo ra giá trị thực tế. Thay vì chỉ giới thiệu những ứng dụng có tính năng hiện đại, Bộ sẽ đánh giá, công bố các sản phẩm thực sự mang lại hiệu quả, làm cơ sở khuyến khích doanh nghiệp, hộ kinh doanh lựa chọn và triển khai.

Các địa phương đang triển khai nhiều giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng 2 con số, trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đặt ở vị trí trung tâm
Doanh nghiệp cần được tháo gỡ khó khăn về nguồn vốn, dữ liệu, nhân lực, thị trường

“

Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thành bộ công cụ 13 ứng dụng hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số và định hướng đánh giá các sản phẩm theo hiệu quả thực tế trước khi giới thiệu, nhân rộng

Để những giải pháp phù hợp đi vào sản xuất, doanh nghiệp còn cần được tháo gỡ khó khăn về nguồn vốn, dữ liệu, nhân lực và thị trường. Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và vừa Việt Nam, ĐBQH Khoá XVI Nguyễn Cao Sơn kiến nghị thực hiện nguyên tắc “Nhà nước chỉ hỏi một lần”: dữ liệu doanh nghiệp đã cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền cần được kết nối, khai thác lại đúng quy định, thay vì buộc kê khai nhiều lần. Đây không chỉ là giải pháp cải cách thủ tục mà còn trực tiếp giải phóng thời gian, chi phí để doanh nghiệp tập trung cho đổi mới và sản xuất.

Ông Nguyễn Cao Sơn cũng đề xuất nghiên cứu cơ chế khấu trừ chi phí đầu tư công nghệ đủ điều kiện ngay trong năm đầu khi xác định thu nhập chịu thuế, nhằm hỗ trợ dòng tiền; thúc đẩy tín dụng dựa trên dữ liệu, nghiên cứu cơ chế định giá tài sản trí tuệ và tạo thị trường cho sản phẩm công nghệ trong nước thông qua đặt hàng giải quyết các bài toán cụ thể. Đây là những kiến nghị chính sách cần được cơ quan có thẩm quyền xem xét, đánh giá tính khả thi, không phải các ưu đãi đã được ban hành.

Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Tháp Đoàn Hùng Vũ
Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Tháp Đoàn Hùng Vũ. Ảnh: Khánh Duy

Tại địa phương, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Tháp Đoàn Hùng Vũ đề xuất các cơ chế thử nghiệm và thu hút doanh nghiệp công nghệ gắn với Khu công nghệ số Mekong, đồng thời thúc đẩy ứng dụng số trong những lĩnh vực có tiềm năng của địa phương. Những đề xuất này cho thấy chính sách quốc gia chỉ tạo tác động lan tỏa khi được chuyển hóa thành chương trình, dự án phù hợp với lợi thế phát triển và điều kiện thực tế từng vùng.

Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh, PGS.TS. Bùi Văn Dũng nhấn mạnh cần bắt đầu từ đánh giá mức độ sẵn sàng, xác định khâu cần cải tiến trước và lựa chọn công nghệ có thể đo lường kết quả. Chuyển đổi số không nên trở thành cuộc chạy đua đầu tư giải pháp phức tạp, mà cần là quá trình từng bước làm tốt hơn những công việc tạo ra giá trị, từ quản trị hàng tồn kho, kiểm soát chất lượng đến kết nối khách hàng và thị trường.

PGS.TS. Bùi Văn Dũng Ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội
PGS.TS. Bùi Văn Dũng Ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội

Cùng với chính sách và nguồn vốn, năng lực con người quyết định khả năng khai thác công nghệ. Theo Thứ trưởng Phạm Đức Long, đào tạo kỹ năng số phải gắn với những công việc cụ thể, để cán bộ cơ sở, người lao động và hộ kinh doanh có thể trực tiếp sử dụng, vận hành nền tảng, thay vì chỉ hoàn thành các khóa tập huấn mang tính hình thức. Nguồn nhân lực có kỹ năng, dữ liệu có chất lượng và cơ chế khuyến khích đổi mới là những điều kiện phải được phát triển đồng thời.

Ở cơ sở, phong trào “Bình dân học vụ số” đang được lan toản mạnh mẽ, trong đó phát huy vai trò của tổ công nghệ số cộng đồng, hướng dẫn, hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số và các tiện ích số an toàn, hiệu quả. Muốn đạt hiệu quả, thành viên các tổ công nghệ số cộng đồng phải được bồi dưỡng kỹ năng gắn với thực hành, đủ khả năng hỗ trợ trực tiếp những tình huống người dân gặp phải. Hiệu quả hoạt động cần được đánh giá bằng khả năng người dân tự thực hiện các thao tác, sử dụng dịch vụ và giải quyết nhu cầu thiết thực sau khi được hướng dẫn. Đây là khâu quan trọng để mở rộng sự tham gia của người dân, đưa các nền tảng số vào đời sống và phát huy giá trị của nguồn lực đã đầu tư.

Xác định rõ tầm quan trọng của chuyển đổi số, xã Cát Thành thường xuyên tổ chức các Hội nghị tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) cho thành viên Tổ Công nghệ số cộng đồng để hướng dẫn người dân hướng đến thành thạo kỹ năng số
Xác định rõ tầm quan trọng của chuyển đổi số, xã Cát Thành thường xuyên tổ chức các Hội nghị tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) cho thành viên Tổ Công nghệ số cộng đồng để hướng dẫn người dân hướng đến thành thạo kỹ năng số. Ảnh: Chí Tuấn

Sự nhất quán giữa chủ trương và kết quả cần thể hiện ở một hệ thống thước đo rõ ràng. Đối với khu vực công, đó là số lần người dân phải khai báo thông tin, thời gian giải quyết thủ tục, chi phí tuân thủ, hiệu quả sử dụng ngân sách và mức độ hài lòng. Đối với doanh nghiệp, đó là năng suất lao động, chi phí tiết kiệm, chất lượng sản phẩm, doanh thu, khả năng mở rộng thị trường và tham gia chuỗi giá trị. Các chỉ số phải phản ánh sự thay đổi trước và sau chuyển đổi số, thay vì chỉ ghi nhận mức chi đầu tư hoặc số lượng ứng dụng.

Nhìn từ toàn bộ tiến trình, thực tiễn doanh nghiệp đã cho thấy tiềm năng tăng năng suất; các mô hình quản trị số mở ra khả năng tiết giảm chi phí xã hội; còn những điểm nghẽn về dữ liệu, nhân lực và triển khai là lời nhắc nhở tiềm năng không tự động trở thành kết quả. Giải pháp vì thế không nằm ở một công nghệ riêng lẻ, mà ở sự kết hợp giữa thể chế kiến tạo, nguồn lực được phân bổ hiệu quả, con người có năng lực và trách nhiệm thực thi được kiểm chứng.

Các địa phương đang triển khai nhiều giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng 2 con số, trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đặt ở vị trí trung tâm
Các địa phương đang triển khai nhiều giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng 2 con số, trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đặt ở vị trí trung tâm

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tạo cơ sở định hướng để kết nối hai nhiệm vụ lớn. Đó là phát triển các động lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; chuyển hóa các động lực đó thành sự đổi mới thực chất của mô hình phát triển đất nước. Những kết quả bước đầu đã cho thấy cơ sở để tiếp tục triển khai các định hướng này, đồng thời các hạn chế trong thực tiễn đòi hỏi phải kiên trì tháo gỡ bằng hành động và trách nhiệm cụ thể.

Mục tiêu tăng trưởng hai con số vì vậy không chỉ đặt ra yêu cầu về tốc độ, mà còn đòi hỏi chuyển biến về chất lượng và phương thức phát triển. Khi chủ trương được cụ thể hóa thành năng suất cao hơn, chi phí thấp hơn, quản trị hiệu quả hơn và cơ hội phát triển rộng mở hơn cho doanh nghiệp, người dân, chuyển đổi số mới thật sự trở thành động lực của mô hình tăng trưởng mới và đóng góp vào tầm nhìn phát triển đất nước trong những thập niên tới

Bài cuối: Đưa đột phá chiến lược thành động lực tăng trưởng thực chất

Giải ngân phải gắn với sản phẩm đầu ra

Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, tính đến ngày 26/10/2026, cả nước mới giải ngân 21.693,48 tỷ đồng trong tổng dự toán 52.680,28 tỷ đồng dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đạt 41,18%; còn gần 30.987 tỷ đồng chưa được giải ngân. Riêng khối địa phương, tỷ lệ giải ngân kinh phí chuyển đổi số mới đạt 30,23%.

Bộ Khoa học và Công nghệ yêu cầu các địa phương làm rõ nguyên nhân chậm giải ngân, tháo gỡ vướng mắc và nâng cao trách nhiệm tổ chức thực hiện; đồng thời nhấn mạnh không giải ngân hình thức chỉ nhằm nâng tỷ lệ. Những con số này cho thấy yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực đưa nguồn lực vào thực tiễn.

Chí Tuấn - Đào Cảnh - Trần Tâm - Diệp Anh - Khánh Duy
Duy Thông trình bày

    Bài cuối: Đưa đột phá chiến lược thành động lực tăng trưởng thực chất
    • Mặc định