Áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình thể hiện sự tôn trọng, bảo tồn và phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp, tiến bộ của các dân tộc

Minh Vân lược ghi 28/05/2014 12:11

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng; những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình; áp dụng tập quán trong hôn nhân và gia đình; nên hay không nên bổ sung chế định ly thân... là những vấn đề còn ý kiến khác nhau khi thảo luận về dự án Luật Hôn nhân và gia đình (sửa đổi)…

ĐBQH Nguyễn Văn Tuyết (Bà Rịa - Vũng Tàu): Luật nên quy định cụ thể độ tuổi mang thai hộ

 

Trước hết, về tuổi kết hôn, ở Điểm a, Khoản 1, Điều 8 quy định nam từ 20 tuổi trở lên và nữ từ đủ 18 tuổi trở lên, nếu vẫn giữ như luật hiện hành là nam từ 20 tuổi trở lên và nữ từ 18 tuổi trở lên thì quy định như vậy sẽ dẫn đến một số bất hợp lý. Vì theo quy định tại điều 18, 19 của Bộ luật Dân sự năm 2005 người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên và người thành niên có năng lực, hành vi đầy đủ nên xảy ra trường hợp mâu thuẫn, khi cá nhân đủ tuổi kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, nhưng lại là người chưa thành niên, chưa có năng lực, hành vi dân sự đầy đủ và bị hạn chế trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005.

Theo quy định tại Khoản 3, Điều 57 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 thì cá nhân chỉ có thể tự mình tham gia quan hệ tố tụng khi đã đủ 18 tuổi trở lên. Nếu theo Luật Hôn nhân và gia đình vẫn quy định là nữ bước sang tuổi 18, tức là từ 18 tuổi trở lên đã được kết hôn, coi là hợp pháp và họ có quyền ly hôn, tuy nhiên, quyền tự do ly hôn của họ sẽ không được thực hiện, nếu sau khi kết hôn và đến thời điểm có yêu cầu ly hôn, họ chưa đủ 18 tuổi. Vì những lý do như vậy, tôi đề nghị quy định tuổi kết hôn của nữ là đủ 18 tuổi trở lên và nam từ 20 tuổi trở lên.

Vấn đề thứ hai, quy định về chế độ mang thai hộ, tôi tán thành với loại ý kiến thứ nhất là cần bổ sung quy định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo trong dự thảo luật. Vì thực tiễn có một số cặp vợ chồng không có khả năng sinh con, mong muốn được thực hiện quyền làm cha, làm mẹ. Hiện nay ở nước ta đã có một số cơ sở y tế để thực hiện các kỹ thuật này, như chúng ta biết do sự thay đổi về điều kiện kinh tế - xã hội, phương thức sống và môi trường tự nhiên nên xuất hiện ngày càng nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng vô sinh và vô sinh cũng đã đang phổ biến trong xã hội hiện nay. Tôi hoan nghênh dự thảo luật đã bổ sung điều 96, 97, 98 và quy định cụ thể các điều kiện của người nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ở Điều 95.

Quy định về xử phạt đối với các vi phạm liên quan đến việc mang thai hộ theo Điều 100, tôi đề nghị Điểm c, Khoản 3, Điều 95, ở đây Điểm c có quy định ở độ tuổi phù hợp. Theo tôi, luật nên quy định cụ thể chứ nếu như nói "ở độ tuổi phù hợp" thì cũng không biết là phù hợp sẽ là bao nhiêu, mà kinh nghiệm ở một số nước quy định độ tuổi tối thiểu của người mang thai hộ là bao nhiêu, ví dụ 21, 22 tuổi hay 25 tuổi và tối đa của người mang thai hội là bao nhiêu tuổi chúng ta nên quy định cụ thể vào trong luật.

Về chế định ly thân, tôi nhất trí không bổ sung chế định này vào dự án luật theo như giải trình của UBTVQH.

 

ĐBQH Cao Thị Xuân (Thanh Hóa): Áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình thể hiện sự tôn trọng, bảo tồn và phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp, tiến bộ của các dân tộc

Về việc áp dụng tập quán trong hôn nhân và gia đình tại Điều 7, tôi tán thành quan điểm được áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình, vì quy định này thể hiện sự tôn trọng, bảo tồn và phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp, tiến bộ của các dân tộc đang hiện hữu và giải quyết được những vấn đề phát sinh trong thực tiễn liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình trong cộng đồng các dân tộc thiểu số. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với 54 thành phần dân tộc, mỗi dân tộc có một tập quán riêng, đó là những quy tắc, quy định xử sự của từng cộng đồng, những tập quán này mang tính ràng buộc, tính cộng đồng rất cao. Đồng bào dân tộc thiểu số coi những tập quán này quan trọng không kém các quy định pháp luật. Nếu thực hiện tốt các quy tắc xử sự mang tính tập quán này trong hôn nhân và gia đình cũng góp phần thực hiện tốt luật pháp của nhà nước.

Về tuổi kết hôn đề nghị nên giữ như quy định hiện hành là nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên, vì qua thực tiễn không có gì trở ngại và đã ổn định, được xã hội thừa nhận, đồng tình. Xu hướng ngày càng nhiều người kết hôn ở độ tuổi cao hơn. Qua giám sát ở đồng bào dân tộc thiểu số cũng đồng thuận nên giữ ở độ tuổi theo quy định của luật hiện hành là phù hợp với sức khỏe sinh sản và phát triển thể lực của cả bố mẹ và con cái.

Đối với chế độ ly thân, tôi đồng tình không nên bổ sung, vì không chỉ trái với truyền thống văn hóa mà đây là quá trình vợ chồng có thể xem xét lại hành vi của mình do có xung đột tạm thời cá nhân để điều chỉnh hành vi có thể tái hợp hoặc nếu không khắc phục được thì sẽ ly hôn theo quy định của pháp luật. Vấn đề này thường vợ chồng không công khai mà tự giải quyết. Không nên quy định chế định ly thân làm tăng thêm mâu thuẫn gia đình, ảnh hưởng đến con cái và quan hệ tình cảm, đồng thời cũng trái với đạo đức của xã hội.

Về vấn đề mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, thực tế vấn đề này đã và đang xảy ra, đem lại hạnh phúc cho nhiều gia đình, đáp ứng được nguyện vọng, nhu cầu chính đáng của các cặp vợ, chồng không có khả năng sinh con, kể cả khi áp dụng kỹ thuật sinh sản, góp phần bảo vệ hạnh phúc của gia đình. Bản chất mang thai hộ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, nhưng thực tế hậu quả cũng khôn lường, do việc mang thai hộ vẫn ẩn chứa tính chất thương mại gây xung đột, làm tổn thương đến người mẹ và trẻ em mà pháp luật khó có cơ sở để xử lý. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, nếu chưa đủ các điều kiện cụ thể và kỹ thuật y học thì chưa nên quy định vấn đề này. Các trường hợp đặc biệt do quan hệ dân sự xử lý, nếu quy định có thể tác động đến công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình và người có điều kiện có thể lạm dụng chính sách này để gây ra sự phân biệt giàu, nghèo trong xã hội vì để thực hiện được kỹ thuật này rất tốn kém, nên chỉ những cặp vợ chồng có điều kiện mới có thể làm được.

 
ĐBQH Đỗ Ngọc Niễn (Bình Thuận): Thời gian chung sống với nhau như vợ chồng có được coi là thời kỳ hôn nhân hay không?

 

Tôi đồng ý áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình như trong dự án luật, vì đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với phong tục, tập quán tốt đẹp của một số địa phương, nơi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Để bảo đảm tập quán về hôn nhân và gia đình được thực hiện thống nhất không làm suy yếu vai trò pháp luật trong cuộc sống thì việc giao thẩm quyền cho Chính phủ quy định chi tiết về vấn đề này như trong dự án luật là phù hợp.

Về giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đây là vấn đề xã hội không khuyến khích nhưng có nảy sinh trong thực tế cuộc sống, nhất là đối với những người đã qua một lần ly hôn. Bởi vậy nên cần phải có những quy định trong luật để giải quyết những hậu quả xảy ra. Do vậy tôi tán thành nội dung này ở Điều 14, 15, 16, tuy nhiên cần phải làm rõ thêm và để xác định thời gian chung sống với nhau như vợ chồng có được coi là thời kỳ hôn nhân hay không? Nếu không xác định điều này thì sẽ không thể xác định được cha mẹ của các con cho những trường hợp này, vì tại Khoản 1, Điều 88 của luật này chỉ xác định "Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng". Nếu thời gian sống chung với nhau như vợ chồng mà không được xem là thời kỳ hôn nhân thì không thể xác định được cha, mẹ của những đứa con sinh ra trong thời gian nam nữ sống chung như vợ chồng. Đã không thể xác định là cha, mẹ của con thì những người làm cha, làm mẹ trong trường hợp này sẽ không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ với con như Khoản 1, Điều 14 quy định. Tôi đề nghị bổ sung vấn đề này vào Điều 14 hoặc Điều 88 để làm rõ hơn.

Thứ ba, chế độ tài sản của vợ chồng thỏa thuận, đây là vấn đề mới so với luật hiện hành nhưng không phải là vấn đề gì mới với Việt Nam, bởi vì trước đây qua các thời kỳ khác nhau luật pháp nước ta cũng đã có những quy định hoặc thừa nhận về chế độ tài sản theo thỏa thuận. Nhiều nước trên thế giới cũng quy định chế độ này trong luật và áp dụng rất tốt trong thực tế mang lại lợi ích thiết thực. Tài sản là quan trọng trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng, vì quyền chiếm giữ định đoạt tài sản nên lúc nào cũng có thể nảy sinh mâu thuẫn phức tạp, nhất là sau khi ly hôn. Thực tế xét xử của tòa án cũng cho thấy phần lớn tranh chấp sau ly hôn, vấn đề xác định phân chia tài sản chung riêng của vợ chồng hết sức phức tạp, kéo dài thời gian xét xử, gây tốn kém về thời gian và tiền bạc. Quy định vợ chồng tự thỏa thuận với nhau xác lập và thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với tài sản của họ, theo tôi đây là sự tiến bộ, khoa học, sự bảo đảm quyền tự do của công dân, trong đó có quyền tự định đoạt tài sản của mình, góp phần giảm, tránh những xung đột về tài sản như đã nêu ở phần trên. Tôi nhất trí áp dụng vào luật chế độ tài sản thỏa thuận cùng với chế độ tài sản theo pháp luật được ghi tại Khoản 1, Điều 28. Tuy nhiên do tâm lý e ngại, nhất là đối với phụ nữ sợ bị đánh giá là tiến tới hôn nhân không do tình yêu, không tin tưởng lẫn nhau, không muốn chung sống lâu dài nên mới phân biệt tài sản chung riêng, tôi đề nghị trong luật hoặc các văn bản dưới luật cần có nội dung quy định về vấn đề này nhằm khắc phục tình trạng vừa nêu để luật pháp được thực thi tốt hơn.

 

ĐBQH Tôn Thị Ngọc Hạnh (Đăk Nông): Vấn đề đại diện cho cha mẹ còn sống nhưng mất hành vi năng lực dân sự cũng cần phải đặt ra

 

Trong dự thảo tại Điều 9 đăng ký kết hôn có Khoản 2 cần cân nhắc, xem xét lại. Cụ thể là tại Khoản 2, Điều 9: Nghi thức kết hôn không theo quy định của pháp luật về hộ tịch đều không có giá trị pháp lý. Giải nghĩa từ nghi thức, một số từ điển tiếng Việt đều thống nhất cho rằng nghi thức là cách thức tiến hành theo nền nếp quy định, là toàn bộ nói chung những điều quy định có tính chất nghiêm túc theo quy ước của xã hội hoặc theo thói quen cần phải làm đúng theo giao tiếp, ứng xử. Ví dụ nghi thức ngoại giao, nghi thức cổ truyền... Với cách hiểu thông thường như trên, từ "nghi thức" đặt trong Điều 9 đăng ký kết hôn theo tôi không cần thiết vì có Khoản 1 đã viết việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Với nghĩa từ nghi thức như trên, tôi nghĩ rằng Luật Hôn nhân và gia đình (sửa đổi) không cần điều chỉnh nghi thức kết hôn để tránh va chạm đến các nghi lễ, tôn giáo hoặc phong tục, tập quán thuộc thuần phong mỹ tục đang tồn tại bao đời nay trong xã hội.

Chương V quan hệ giữa cha mẹ và con, tại Mục 1 quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con đã thiết kế Điều 77 đại diện cho con. Quy định nội dung cha mẹ là người đại diện theo pháp luật cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, nội dung đại diện cho con trong dự thảo nói chung là rõ ràng và đầy đủ. Xuất phát từ thực tiễn trong luật này tôi thấy cần bổ sung một điều luật riêng quy định thêm nội dung đại diện cho cha mẹ bên cạnh điều luật đại diện cho con nói trên. Với mục đích để điều chỉnh trường hợp cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự vì lý do sức khỏe có thể là đau ốm, tai biến trong khi vẫn còn nguyên các giao dịch dân sự có liên quan đến kinh tế và tài sản. Trong trường hợp cha mẹ chỉ có một con thành niên hoặc cha mẹ có nhiều con thành niên thì vấn đề đại diện cho cha mẹ còn sống nhưng mất hành vi năng lực dân sự cũng cần phải đặt ra để điều chỉnh. Vì trong thực tiễn cần có người tiếp tục định đoạt các giao dịch dân sự dẫn đến giao dịch về tài sản mà cha mẹ đang tiến hành khi cha mẹ chưa mất năng lực hành vi dân sự. Đồng thời để giải quyết sự bất đồng, tranh chấp giữa các con của cha mẹ khi cha mẹ tuy còn sống nhưng không còn đủ sức khỏe, minh mẫn, không đủ năng lực hành vi dân sự để định đoạt các giao dịch dân sự dẫn đến giao dịch về tài sản đang thực hiện dở dang.

Vấn đề thứ ba, trong dự thảo Điều 10, người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật cần được xem xét chỉnh sửa cho hợp lý hơn. Cụ thể tại Khoản 1, theo tôi cần thiết phải bỏ cụm từ "theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự" trong đoạn này để nói rõ người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại Khoản 2 điều này yêu cầu tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật, để cụm từ "theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự trong điều khoản" tạo cảm giác rối cho điều luật.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình thể hiện sự tôn trọng, bảo tồn và phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp, tiến bộ của các dân tộc
        • Mặc định