7 ngộ nhận và lỗ hổng cần tránh trong quản lý giá độc quyền
Dư luận vẫn ấn tượng về tình trạng giá xăng, dầu lên nhanh - xuống chậm so với giá thế giới; còn điện là ngành duy nhất chỉ tăng giá một chiều mà chưa bao giờ giảm. Hơn nữa, hầu hết các ngành này luôn kêu lỗ, dù giá thế giới lên hay xuống, trong khi thu nhập bình quân lao động trong các đơn vị này cao so với trung bình tiền lương xã hội.
Giá những mặt hàng thiết yếu đang có tính độc quyền cao như điện, than và xăng dầu ảnh hưởng mạnh trực tiếp và gián tiếp đến lạm phát ở nước ta. Vì đều là yếu tố đầu vào của nhiều hoạt động kinh tế và tiêu dùng xã hội, nên các động thái giá cả của chúng đều có ảnh hưởng trước hết và trực tiếp tới chi phí sản xuất của hầu hết các ngành và hoạt động kinh tế liên quan, trực tiếp dẫn đến sự điều chỉnh tăng chi phí và giá cả các yếu tố cấu thành hàng hóa - dịch vụ “sản phẩm đầu ra” xã hội, do đó làm tăng giá hầu hết các mặt hàng hóa và dịch vụ xã hội. Mỗi khi giá những mặt hàng này tăng sẽ trực tiếp và gián tiếp, sớm hay muộn đều khởi động một vòng xoáy lạm phát đan xen phức tạp bao gồm cả lạm phát giá cả, lạm phát chi phí và lạm phát tâm lý và còn bị nhân bội bởi các chiêu tung tin đồn thất thiệt và đầu cơ sẽ bùng phát cùng với sự bất cập trong cơ chế thông tin và trách nhiệm giải trình. Điều này khiến mức ảnh hưởng của sự tăng giá các mặt hàng này đến lạm phát thực tế sẽ luôn lớn vượt hơn bất cứ sự tính toán cứng nhắc và dự báo có tính chất an ủi nào của cơ quan, đơn vị được giao đánh giá tác động của tăng giá các mặt hàng này.
Đằng sau quản lý giá những mặt hàng còn độc quyền là bức tranh về triển vọng lạm phát, là thước đo về sự minh bạch của môi trường đầu tư và độ lành mạnh của cơ chế thị trường, cũng như của uy tín, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước. Vì vậy, cần quan tâm đúng mức đến việc hoàn thiện cơ chế quản lý giá độc quyền, bảo đảm ngày càng tuân thủ các quy luật, nguyên tắc, quy trình thị trường, các cam kết hội nhập quốc tế và thông lệ thế giới, bảo đảm hài hòa lợi ích tổng thể và bền vững, tăng tính minh bạch hóa và có thể dự báo được giá cả theo tín hiệu thị trườâng, góp phần tích cực kiềm chế vững chắc lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hoàn thiện thể chế nhà nước pháp quyền.
![]() Nguồn: ITN |
Thứ nhất, cho phép doanh nghiệp độc quyền tự định giá thị trường khi chưa có cạnh tranh đầy đủ theo đúng quy trình và điều kiện của quy luật kinh tế thị trường. Thực hiện cơ chế giá cả và cạnh tranh thị trường cho các doanh nghiệp trở thành định hướng chung, nhất quán của Nhà nước theo yêu cầu hội nhập. Tuy nhiên, cần tránh ngộ nhận, hiểu sai, bóp méo và lạm dụng về giá cả và cơ chế thị trường do không thực hiện đúng quy trình và điều kiện thả nổi giá theo cơ chế thị trường. Thực tế cho thấy, chỉ có được giá thị trường khi có cạnh tranh đầy đủ và sự kiểm soát cạnh tranh thị trường lành mạnh. Trước khi có cạnh tranh thị trường mà cho phép các doanh nghiệp tự định giá là tạo cơ hội cho tăng giá độc quyền, biến độc quyền Nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp, là mang lại lợi ích độc quyền kép cho doanh nghiệp độc quyền, vì vừa không phải cạnh tranh thị trường, vừa được áp giá độc quyền...
Thứ hai, thực hiện bình ổn thị trường bằng cách thức phi thị trường và bóp méo giá cả thị trường. Vì vậy, cần sớm tách biệt và minh bạch hóa yêu cầu dự trữ bảo đảm an ninh (năng lượng) quốc gia như là các nhiệm vụ chính trị của doanh nghiệp độc quyền, với hoạt động dự trữ kinh doanh vì lợi nhuận các mặt hàng độc quyền này (xăng, dầu), nhằm giảm thiểu sự lạm dụng, mập mờ mà hạch toán đẩy lỗ cho NSNN bù khi thị trường bất lợi, hoặc không chịu hạ giá theo thị trường, giành lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp và lợi ích nhóm, ngành. Mặt khác, cần đưa nhiệm vụ dự trữ an ninh xăng dầu về cho Cơ quan dự trữ quốc gia và thực hiện việc quỹ này mua vào hoặc bán ra độc lập nhằm mục tiêu điều tiết thị trường theo yêu cầu Chính phủ phù hợp với thời điểm thị trường cần thiết vì lợi ích quốc gia.
Thứ ba, đề cao sự quản lý nhà nước một cách hình thức bằng việc gò bó doanh nghiệp trong khung giá thiếu chuẩn cho những giá còn trong diện kiểm soát. Thực tế cho thấy, do ngộ nhận và cả kỳ vọng vào quyền lực quản lý nhà nước về giá độc quyền, cơ quan chức năng thường đưa ra những công thức tính toán và cơ chế, quy trình quản lý khung giá hết sức phức tạp, tưởng chừng chặt chẽ, nhưng không thiếu các khe hở. Điều này khiến các doanh nghiệp độc quyền bị bó buộc trong mê cung các quy định, gây khó khăn cho việc linh hoạt giá theo thị trường cũng như dễ lạm dụng qua đó, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng.
Bởi vậy, cần thiết kế lại khung giá gồm giá “sàn” và giá “trần” chuẩn cho những mặt hàng còn độc quyền, sao cho doanh nghiệp có thể linh hoạt điều chỉnh giá bán ra của mình mềm và thấp hơn giá trần và luôn cao hơn giá sàn, hài hòa các lợi ích. Khi đó, các doanh nghiệp kinh doanh sẽ được chủ động cộng hoặc trừ thêm vào giá bán lẻ đó các mức tăng giảm thực tế của giá thế giới (có tham chiếu giá của sản phẩm được sản xuất trong nước); mức biến động tỷ giá và mức thu NSNN và lợi nhuận định mức, cùng các cấu thành giá nêu trên tùy theo thực tế thị trường và quy định có liên quan của Nhà nước, chứ không mất thời gian làm thủ tục xin - cho; giúp giảm thiểu sự lạm dụng chủ quan cố ý khi tăng giảm giá… Đồng thời, doanh nghiệp được điều chỉnh mức lãi định mức của mình theo hướng thấp hơn định mức do Nhà nước quy định để giảm giá và tạo sức cạnh tranh trong kinh doanh với nhau.
Thứ tư, neo giá cố định kéo dài bất chấp những biến động mạnh của giá thế giới. Vừa phải tránh sự thổi phồng nâng cấp thái quá xu thế tăng giá cục bộ thành việc xuất hiện mặt bằng giá mới, vừa cần tránh thái độ mũ ni che tai, duy trì kéo dài giá cả của mặt hàng nào đó tiêu thụ ở thị trường trong nước bất chấp sự tăng giá mạnh của nó ở thị trường thế giới. Sự bất cập này có thể gây những tác hại khôn lường về kinh tế, nhất là làm tăng mức bù lỗ khổng lồ vượt quá sức chịu đựng của ngân sách nhà nước, làm tăng tình trạng buôn lậu qua biên giới kiếm chênh lệch giá, tăng cơ hội đầu cơ, tham nhũng và gian lận thương mại khác liên quan đến mặt hàng phải nhập khẩu này. Những bài học đắt giá thời bao cấp cách đây chưa lâu vẫn còn giữ nguyên tính thời sự trong thực tiễn nước ta thời mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ năm, điều chỉnh giá trong nước theo lộ trình kế hoạch cứng nhắc. Không thể điều chỉnh giá theo khớp hoàn toàn mức tăng giá thế giới một cách thụ động, song cũng không nên điều chỉnh giá theo một lộ trình kế hoạch hóa cứng nhắc và được công khai rộng rãi. Điều này là cần thiết để phòng tránh tâm lý và các hiện tượng đầu cơ găm hàng trục lợi từ sự lệch giá trước và sau “giờ G” của những đợt tăng giá theo kế hoạch đã được công khai và thực thi cứng nhắc.
Thứ sáu, chỉ điều chỉnh giá tăng một chiều, lên nhanh, xuống chậm hoặc không điều chỉnh khi giá giảm. Việc điều chỉnh giá (nhất là giá độc quyền) chỉ theo hướng tăng, mà không hoặc chậm điều chỉnh giảm khi cơn sốt giá quốc tế đã hạ nhiệt là lợi bất cập hại, cái lợi thu được nhỏ và có tính ngắn hạn so với cái mất. Bởi trước hết gây thiệt hại kinh tế cho người tiêu dùng, làm giảm sự công bằng và điều kiện cạnh tranh lành mạnh, thậm chí còn làm suy giảm lòng tin, độ tín nhiệm của dân chúng và doanh nghiệp vào năng lực điều hành chính sách.
Thứ bảy, buông lỏng quản lý Nhà nước và giám sát xã hội đối với giá các sản phẩm độc quyền. Để khắc phục hạn chế này, trước hết, cần có những quy định hợp lý liên quan đến các chỉ tiêu kỹ thuật, công khai và kiểm toán sự chính xác chi phí hoạt động, các nghĩa vụ tài chính với NSNN và lợi nhuận của ngành và đơn vị kinh doanh, cung ứng sản phẩm độc quyền; cung cấp rộng rãi thông tin và khuyến khích phản biện khoa học và phản biện xã hội về hoạt động, chi phí và giá cả về các sản phẩm này. Đồng thời, cần đề cao trách nhiệm cá nhân người đứng đầu và tổ chức thi tuyển công khai vào các vị trí nhân sự cao cấp trong quản lý và phát triển các ngành này; tăng cường sự giám sát, kiểm tra chủ động của Nhà nước và các tổ chức xã hội, báo chí, cũng như xử lý kịp thời và nghiêm khắc các sai phạm của bất kỳ cá nhân và tổ chức.
Việc tăng giá trong nước theo mức tăng giá thế giới sẽ bị mất hiệu quả tích cực, hoặc thậm chí bị lạm dụng vì lợi ích cục bộ, nếu thiếu coi trọng thường xuyên việc hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế thị trường, phát triển và vận hành thông suốt đồng bộ các thể chế thị trường cần thiết, mở rộng tự do hóa cạnh tranh thị trường lành mạnh, chống các hoạt động đầu cơ, bán phá giá và các gian lận thương mại khác... cũng phải gắn việc điều chỉnh tăng giá với các biện pháp cần thiết nhằm kiểm soát các chi phí hợp lý, giảm thiểu tình trạng té nước theo mưa, mượn gió bẻ măng, tăng giá thu lợi nhuận không chính đáng do thiếu hợp lý hóa các chi phí sản xuất – kinh doanh. Không thể chấp nhận tình trạng một ngành độc quyền cứ tự đề xuất và tự cho phép tăng giá với đủ thứ lý do..., trong khi bộ máy quản lý kềnh càng, năng suất lao động thấp, đồng vốn đầu tư kém hiệu quả và thu nhập của cán bộ công nhân viên, nhất là lãnh đạo, thì cứ cao ngất so với các ngành, lĩnh vực khác.
Nếu tăng giá chỉ vì lợi ích kinh doanh thuần túy của một ngành, tập đoàn trong bối cảnh cạnh tranh thị trường chưa đầy đủ và thiếu các thiết chế đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, nhất là tầng lớp có thu nhập thấp, thì việc tăng giá đó chưa đạt được hiệu quả xã hội cần thiết trong quản lý nhà nước về giá cả. Bởi vậy, cần tùy theo tình hình thực tiễn, nhất là căn cứ vào đánh giá và dự báo xu hướng biến động giá và tác động của tăng giá đến đời sống kinh tế – xã hội mà lựa chọn các phương án tăng giá tối ưu. Thậm chí, nếu cần vẫn không nên loại trừ sự hỗ trợ nhất thời của Nhà nước để duy trì giá ở mức ít gây hại lớn nhất đến đời sống thực tế của đa số người tiêu dùng hoặc để duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế cần thiết cho đất nước theo những ưu tiên được lựa chọn…


