5 bản Hiến pháp - 5 mốc vàng son của lịch sử nước nhà
Hình ảnh bản Hiến pháp in dấu thời gian, tư liệu ghi lại khoảnh khắc các đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Hiến pháp… tái hiện sinh động hành trình 80 năm Quốc hội Việt Nam thực hiện sứ mệnh cao cả: xây dựng nền tảng pháp lý cho sự phát triển của dân tộc.
Trong triển lãm “Quốc hội Việt Nam - 80 năm đồng hành cùng dân tộc”, diễn ra tại Nhà Quốc hội ngày 6/1/2026, công chúng có dịp nhìn lại dấu ấn lập hiến của Quốc hội Việt Nam trong 80 năm qua, thông qua những bức ảnh, tư liệu, hiện vật liên quan đến 5 bản Hiến pháp của nước Việt Nam.

Hiến pháp là văn kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng, là nhân tố bảo đảm sự ổn định chính trị, xã hội và chủ quyền của quốc gia, thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của nhà nước và chế độ.
Theo dòng lịch sử của nước ta, kể từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay, nước ta đã có 5 bản Hiến pháp. Đó là Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013. Các bản Hiến pháp này đều ra đời trong những bối cảnh và ở những thời điểm lịch sử nhất định nhằm thể chế hóa đường lối cách mạng của Đảng cho mỗi giai đoạn phát triển của đất nước.

Bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta được thông qua ngày 9/11/1946, tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội Khóa I. Hiến pháp đã đánh dấu sự cáo chung của nền thống trị ngoại bang, tuyên bố nước Việt Nam độc lập từ Bắc đến Nam, theo chế độ dân chủ nhân dân, quyền bính là của toàn thể nhân dân không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo; các quyền tự do dân chủ được đảm bảo…
Do hoàn cảnh chiến tranh (10 ngày sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ), bản Hiến pháp năm 1946 không được chính thức công bố. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần của các quy định trong Hiến pháp 1946 đã được thực hiện trên thực tế căn cứ vào tình hình cụ thể.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục đấu tranh để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Hiến pháp năm 1946 đã hoàn thành sứ mạng lịch sử, nhưng so với tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới cần được bổ sung, thay đổi.
Ngày 31/12/1959, tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội Khóa I đã nhất trí thông qua bản Hiến pháp sửa đổi và ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh công bố Hiến pháp.
Với 10 chương, 112 điều, Hiến pháp năm 1959 đã phát huy tinh thần của Hiến pháp năm 1946, đồng thời phản ánh đầy đủ tình hình thực tế của chế độ ta do cuộc cách mạng phản đế, phản phong thắng lợi đã mang lại, phản ánh đúng đắn con đường đang tiến lên của dân tộc.

Ngày 18/12/1980, tại Kỳ họp thứ Bảy, Quốc hội Khóa VI đã nhất trí thông qua Hiến pháp mới. Hiến pháp năm 1980 đã xác định bản chất giai cấp của Nhà nước ta là Nhà nước chuyên chính vô sản, có sứ mệnh lịch sử là thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, động viên và tổ chức nhân dân xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Sau một thời gian phát huy hiệu lực, nhiều quy định của Hiến pháp năm 1980 tỏ ra không còn phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước. Ngày 15/4/1992, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới.

Các hình ảnh tại Triển lãm thể hiện quá trình soạn thảo Hiến pháp một cách kỹ lưỡng, nghiêm túc. Có thể nói, Hiến pháp năm 1992 là sản phẩm trí tuệ của toàn dân, thể hiện ý chí và nguyện vọng của đồng bào cả nước, là bản Hiến pháp của Việt Nam trong tiến trình đổi mới.
Ngày 28/11/2013 tại Kỳ họp thứ Sáu, Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Hiến pháp 2013. Bản Hiến pháp thể hiện tinh thần đổi mới sâu sắc, tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc cho sự vận hành toàn bộ đời sống xã hội trên nền tảng dân chủ, pháp quyền và tạo ra động lực mạnh mẽ để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Từ hình ảnh Quốc hội Khóa I thảo luận về Hiến pháp đầu tiên đến hình ảnh hiện đại, trang nghiêm khi các đại biểu Quốc hội Khóa XIII nhấn nút thông qua Hiến pháp năm 2013 trên bảng điện tử, phần nào cho thấy sự phát triển của Quốc hội, của đất nước.
Tuy hình thức biểu quyết có khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử, nhưng tinh thần và ý chí thì chỉ có một. Đó là sự thống nhất của ý Đảng - lòng dân, là cam kết chính trị cao nhất của cơ quan quyền lực Nhà nước trong việc xác lập thể chế, bảo vệ quyền con người và định hướng con đường đi lên của dân tộc.

