4 vấn đề lớn còn ý kiến khác nhau
Tại Kỳ họp thứ Năm, QH đã cho ý kiến lần đầu về dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi). Dự kiến tại Kỳ họp thứ Sáu, QH sẽ xem xét thông qua. Trong quá trình tiếp thu ý kiến của ĐBQH, cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra đã phối hợp nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ ý kiến thể hiện trong Báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự án luật. Đến nay, còn 4 vấn đề lớn còn ý kiến khác nhau đó là phạm vi điều chỉnh, việc chỉ định thầu, hợp đồng thầu và vấn đề mua thuốc cho các cơ sở y tế.
Phó chủ tịch QH Uông Chu Lưu: Lập luận sau khi luật này có hiệu lực thì nền kinh tế vĩ mô của nước ta đã ổn định là không thuyết phục
Về điều chỉnh hoạt động đấu thầu của doanh nghiệp nhà nước, ở đây lập luận là sau khi luật này có hiệu lực thì nền kinh tế vĩ mô của nước ta đã ổn định và không còn tăng giá cho nên phải chọn quy định giá trị tuyệt đối là 500 tỷ đồng tôi thấy cái này không biết dự báo kiểu gì? Sang năm luật có hiệu lực thi hành vậy từ nay đến tháng 6 sang năm hoặc cuối năm sau không biết kinh tế vĩ mô đã ổn định chưa hay hay vẫn còn trượt giá? Đề nghị phải chỉnh lại, nói thế này không nghe được.
Thứ hai, trong này có nêu vấn đề là có những hợp đồng, những dự án nếu nói dưới 30% tổng vốn đầu tư của nhà nước thì không phải lựa chọn nhà thầu, những dự án trên 30% thì phải chọn lựa nhà thầu. Nhưng nhiều dự án trên 30% nhưng giá trị tuyệt đối lại thấp hơn so với những trường hợp dưới 30% lại phải chọn nhà thầu. Chỗ này phải cân nhắc. Bởi vì các gói thầu khác nếu như ngân sách nhà nước quy định ví dụ 100 triệu hay 1 tỷ trở lên là phải đấu thầu, trong lúc đó giá trị tuyệt đối là 500 tỷ thì chỗ này phải tính mối tương quan mặc dù đây là vốn nhà nước trong một dự án có thể nói rằng là cổ phần hoặc có nhiều thành phần khác tham gia. Đấy là ý tôi đề nghị phải tính thêm, giá trị 500 tỷ là hơi cao.
Về chỉ định thầu tôi đề nghị phải cân nhắc thêm. Có những loại dự án hoặc có những loại vật liệu hoặc có những loại tư vấn nhưng chỉ có một nhà thầu. Ví dụ như nhà QH, làm thiết bị ở tầng này chỉ có một nhà thầu cung cấp được tất cả những yếu tố kỹ thuật, tất cả mọi công năng. Những trường hợp này mà đấu thầu thì chờ đến lúc nào? Trong những trường hợp ấy tôi nghĩ cũng nên đưa vào trong này là cho phép chỉ định thầu.
Nói một cách chung là những dự án liên quan đến quốc phòng an ninh được chỉ định thầu cả thì cũng không phải. Chỗ này cũng phải tính, loại quốc phòng an ninh có tính chất bí mật quốc gia, bí mật an ninh, quốc phòng còn nếu mang tính chất kiểu kinh tế trong quốc phòng an ninh thì phải đấu thầu theo quy định chung.
Về hợp đồng, Điều 62, giữa định nghĩa, khái niệm và điều kiện của hợp đồng không rõ. Điểm a và điểm b không biết đây là hai loại hợp đồng trọn gói hay là những điều kiện. Điểm a nói thế này: hợp đồng trọn gói là loại hợp đồng cơ bản chủ đạo được áp dụng đối với tất cả các loại gói thầu, có phải đây là khái niệm không? Chỗ này tôi nghĩ ta phải rà soát làm lại thật kỹ. Tôi hiểu nếu nói khái niệm thì chính Điểm b, Điều 62, ở Khoản 1 nói "hợp đồng trọn gói là hợp đồng có giá cố định trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng đối với toàn bộ nội dung công việc thuộc phạm vi đã ký kết trong hợp đồng" - chính cái này là hợp đồng trọn gói còn Điểm a bên trên hoàn toàn không phải…
Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Trương Thị Mai: Tôi hơi quan ngại khi mở rộng tất cả các hình thức đấu thầu
Tôi cơ bản thán thành với những vấn đề Ủy ban Kinh tế tiếp thu, giải trình ở đây. Về vấn đề mục mua thuốc của các cơ sở y tế, tôi xin nói mua thuốc của các cơ sở y tế là vấn đề phức tạp, đối với Ủy ban phải tổ chức mấy cuộc họp chuyên gia, làm việc với Bộ Y tế nhiều lần, làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem thử trong dự án luật này đưa vào như thế nào để có mức tiến bộ, tốt hơn trong vấn đề mua thuốc của các cơ sở y tế bằng tiền ngân sách và bằng tiền bảo hiểm y tế. Đến thời điểm này, chúng ta có cố gắng đưa vào một số điều, ở đây có 5 điều. Tuy nhiên, tôi thấy còn một số băn khoăn, tôi nghĩ băn khoăn này cũng không phải một mình Ủy ban Kinh tế giải quyết mà ủy ban chúng tôi, Bộ Y tế, các cơ quan có liên quan cùng ngồi với nhau. Tôi đang tính ngày 21/10 khai mạc QH thì khoảng ngày 22 gì đó tôi phải ngồi với các ĐBQH trong lĩnh vực y tế cùng một số chuyên gia để tiếp tục thảo luận về 5 điều quy định trong Luật Đấu thầu. Bởi vì nếu luật này ban hành xong mà đấu thầu thuốc không có bước tiến bộ thì rất khó khăn đối với Bộ Y tế, áp lực rất lớn, áp lực cho cả ủy ban tôi vì ủy ban giám sát về vấn đề này.
Thứ nhất là hiện nay đấu thầu thuốc đang ở mức độ lớn, ví dụ Bệnh viện Bạch Mai, Chợ Rẫy đấu thầu thuốc 1 năm khoảng 600 - 700 tỷ tiền thuốc, từng gói là khoảng 100 tỷ. Bảo hiểm y tế hàng năm cũng phải trả vài chục nghìn USD tiền thuốc vì thuốc chiếm tới 60% trong chi phí khám, chữa bệnh, 1 năm phải trả khoảng 20 - 30.000 USD thì thuốc chiếm tới 60%, khoảng hơn 10.000 tỷ.
Điều 48, Khoản 1 quy định: ngoài các hình thức lựa chọn nhà thầu từ Điều 21 đến Điều 26 còn cho phép hình thức đàm phán giá. Tại Điều 51 quy định về mua thuốc tập trung. Như vậy tóm lại mua thuốc của các cơ sở y tế, ở phạm vi điều chỉnh của luật chỉ mua thuốc từ ngân sách nhà nước, từ bảo hiểm y tế và nguồn thu hợp pháp khác. 3 nguồn đó phải thực hiện theo luật này. Toàn bộ các hình thức luật này quy định thì thuốc được mua theo tất cả các hình thức đó, tôi hơi quan ngại vấn đề này. Ví dụ đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh, mua sắm trực tiếp, tự thực hiện, tức là từ Điều 21 đến Điều 26. Điều 48 quy định thêm đàm phán giá cho mua thuốc và Điều 51 quy định đấu thầu tập trung. Tại Thông tư 01 tôi mới kiểm tra lại thì Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn phải đấu thầu, mua thuốc bằng nguồn kinh phí sử dụng ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm y tế, nguồn thu hợp pháp khác phục vụ cho nhu cầu phòng bệnh, khám, chữa bệnh thì phải đấu thầu. Đây là thông tư gần nhất năm 2012. Như vậy rõ ràng ở Luật Đấu thầu mở rộng tất cả các hình thức thì tôi hơi quan ngại.
Tại Điều 22 về chỉ định thầu, ví dụ thử một điều đấu thầu hạn chế, đấu thầu hạn chế có nói là áp dụng đối với yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù thì như vậy đối với thuốc nó là gì? Nếu là thuốc thì phải là biệt dược, biệt dược gốc hay gì đó, nhưng ở đây thì yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù. Nếu từ đây áp dụng qua mua thuốc thì nó là gì, tôi đọc, tôi thấy còn băn khoăn…
Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính và Ngân sách Phùng Quốc Hiển: Mức 500 tỷ là cao…
Thứ nhất tôi thấy phải viết lại Điều 1 về phạm vi điều chỉnh bởi cách hành văn này có lẽ không phải hành văn của luật. Phạm vi điều chỉnh, về mặt xã hội phải điều chỉnh những vấn đề gì trong đấu thầu chứ không thể Điều 1 lại ghi 1: Lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, phi tư vấn hàng hóa bao gồm và liệt kê một loạt thế này. Đây không phải hành văn của luật, phải quy định phạm vi điều chỉnh này là tất cả những đối tượng nằm ở trong yêu cầu này phải thực hiện theo Luật Đấu thầu… Có thể Điều 1 phải tách ra làm hai điều: một là những đối tượng nào phải làm đấu thầu. Loại thứ hai là phạm vi điều chỉnh của nó là gì chứ không có thể để chung ở Điều 1 này. Đó là về mặt kỹ thuật, còn về mặt nội dung tôi thấy cái này làm chặt chẽ hơn, nhưng tôi thấy mức 500 tỷ vẫn là cao, 500 tỷ là 25 triệu USD, không phải nhỏ. Cho nên tôi đồng tình phải quy định ở mức thấp hơn, có thể chỉ 100 tỷ.
Tôi cũng đồng tình về loại hợp đồng trọn gói. Tuy nhiên thể hiện như thế này thì khó, chúng ta ghi "hợp đồng trọn gói là loại hợp đồng cơ bản, chủ đạo được áp dụng đối với tất cả các loại gói thầu". Ngay câu đầu tiên đã ghi như thế này, khẳng định thế nào là cơ bản, thế nào là chủ đạo và áp dụng với tất cả các loại gói thầu? Phải chăng ta phải ghi rõ hợp đồng loại này là tất cả các loại đấu thầu phải thực hiện, như vậy mới rõ. Đồng ý là có các hợp đồng khác như hợp đồng theo đơn giá cố định, hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh, trường hợp nào áp dụng theo đơn giá cố định và đơn giá điều chỉnh thì mới rõ. Có thể ghi như thế này nhưng không có quy tắc gì và nguyên tắc gì để buộc các đối tượng phải thực hiện hợp đồng trọn gói, vì hợp đồng trọn gói này có thể khắc phục tình trạng vừa qua là hợp đồng đợi giá để thay đổi hợp đồng. Cho nên Điều 62 theo tôi phải nói rõ khái niệm, một là thế nào là hợp đồng trọn gói, sau đó hợp đồng này yêu cầu tất cả các đối tượng hợp đồng phải áp dụng đối với tất cả các loại gói thầu như thế thì sẽ chặt chẽ hơn. Nếu thể hiện như Điều 62 thì vừa lỏng, vừa không chặt.
Về chỉ định thầu, tôi thấy lần này đưa ra tương đối chặt, nhưng tôi rất lo lắng là có thể cũng có tình trạng khẩn cấp hoặc sự cố bất thường, nhưng cũng có những trường hợp không phải bất thường, không phải là khẩn cấp, nhưng lại cần chỉ định thầu để tạo ra sự hoàn thiện kịp thời thì có “mở” ra không? Việc chỉ định thầu như thế này là chặt chẽ rồi, nếu làm được thế này thì tốt, nhưng có những trường hợp khác xảy ra thì xử lý thế nào? Điều này cũng phải tính thêm. Tôi rất hoan nghênh viết thế rất chặt, nhưng chặt quá thì khó cho quá trình tổ chức thực hiện.
Chủ nhiệm VPQH Nguyễn Hạnh Phúc: Xử lý nhà thầu vi phạm về hợp đồng không phải dễ
Tôi cơ bản nhất trí với Báo cáo giải trình của Ủy ban Kinh tế, tôi chỉ suy nghĩ một điểm ở Điều 66 là việc bảo đảm thực hiện hợp đồng. Mục 5 có nói đến việc nhà thầu bị tịch thu trong trường hợp hợp đồng vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng. Thực tế trong quá trình thi công đối với trường hợp nhà thầu vi phạm về hợp đồng xử lý không phải dễ. Khi người ta vào rồi mà đẩy ra chấm dứt hợp đồng thì phải nghiệm thu đánh giá lại toàn bộ khối lượng đã làm, việc này là mắc nhất từ trước tới nay, thậm chí nhà thầu còn kiện ra tòa nên kéo dài ảnh hưởng tới chủ đầu tư. Trong này quy định nhà thầu bị tịch thu, tôi cũng chưa hiểu tịch thu thế nào? Bây giờ người ta làm có khối lượng rồi thì tịch thu thế nào, việc này cũng không phải dễ. Tài sản người ta làm mà mình cũng ứng tiền rồi, ví dụ ứng 50% mà khối lượng thực hiện chỉ có 30% nếu tịch thu mà “ôm” lấy món đấy cũng chết, không thể nào xử lý được. Người ta ứng tiền rồi thì xử lý thế nào, mà trên thực tế vấn đề này mắc lắm.
Thứ hai, Điểm 6 ghi: Trường hợp cần gia hạn thời gian hợp đồng phải yêu cầu nhà thầu gia hạn tương ứng với thời gian hiệu lực của bảo đảm thực hiện hợp đồng. Nhà thầu làm chậm thì rất muốn gia hạn, mình việc gì phải yêu cầu, họ chỉ muốn bên A gia hạn chứ đâu phải đi giục họ gia hạn hợp đồng, đây mình lại yêu cầu nhà thầu gia hạn hợp đồng. Thứ hai, việc thực hiện hợp đồng chậm tiến độ do lỗi của nhà thầu mà nhà thầu từ chối gia hạn hiệu lực của bảo đảm thực hiện hợp đồng thì nhà thầu sẽ bị tịch thu bảo đảm thực hiện hợp đồng. Câu này như câu trên, nhưng báo cáo thời hạn ghi thế này thì coi như bên A chẳng có tác dụng, quyền hạn gì cả mà mình cứ phải khổ sở, đã khổ rồi bây giờ lại phải giục họ để gia hạn thêm cho mình. Tôi nghĩ nên xem lại Điểm 5, 6 trong điều này mà Điều 66 này cũng tương ứng như Điều 72, Điều 72 là quy định việc bảo đảm hợp đồng. 2 điểm này không rõ.

