Lênh đênh xa bến (Phần cuối)<br><i>Truyện của</i> Trần Thanh Cảnh 

Xem với cỡ chữ

>> Lênh đênh xa bến (Phần 1)

>> Lênh đênh xa bến (Phần 2)

>> Lênh đênh xa bến (Phần 3)

Nhiều buổi chiều, tôi ra đầu bản ngắm đỉnh Mã Tử mờ ảo trong mây, dường như trong mù mờ sương khói gần chạm tới cao xanh kia, có một cái gì đang âm thầm lấp lánh sáng chờ đợi tôi. Dù anh Vũ suốt ngày đêm vui thú bên cô vợ ngày càng xinh đẹp nõn nà ra, không còn nghĩ đến việc leo lên đỉnh Mã Tử để tìm viên ngọc trời, thì tôi lại ngày càng nung nấu. Mỗi ngày đi rừng, tôi âm thầm ngắm nghía địa hình phương hướng. Tôi quyết leo lên đỉnh Mã Tử, chiếm lấy viên ngọc trời để đổi đời. Nhưng một mình trèo lên đấy là chuyện không tưởng. Đường lên cực kỳ hiểm trở, phải xuyên qua rừng già, qua những gộp đá tai mèo. Phải ngủ qua đêm trên núi cao hoang lạnh đầy thú dữ. Tôi chưa biết tính thế nào. Ở trên Long Sơn mấy tháng, ngày đi rừng, tối về rượu chè lu bù. Sức lực trai tráng như được bồi đắp bởi khí hậu và thức ăn dồi dào của vùng này. Tôi khỏe ra rất nhiều. Tôi đã thạo hết các công việc của một tay trai bản chính hiệu. Đẵn cây, xẻ gỗ, đốt nương, thậm chí cả vác súng vào rừng ban đêm bắn thú. Việc gì tôi cũng làm tốt. Gia đình bố vợ anh Vũ rất quý tôi. Có ở trên này lâu lâu mới thấy là người vùng Long Sơn tử tế và quý người. Bà Lửng cứ xuýt xoa tiếc, giá còn cô con gái nào thì gả luôn cho tôi, hay biết mấy. Tôi chỉ cười. Thỉnh thoảng buổi chiều rỗi rãi, tôi ra đầu bản, leo lên cái gộp phía trên hang đá đĩ, ngồi nhìn hướng về xuôi. Phía xa xa, trên những triền núi thấp, vài bóng áo chàm lúi húi. Những ngọn khói đốt nương xanh thẫm lờ đờ uể oải bay lên tan dần vào nền trời xám đục. Buồn. Một nỗi buồn không tả nổi từ đâu đột ngột xâm chiếm toàn thân thể. Cả con người tôi như tan vào cái vô vọng âm u của núi rừng. Tôi chợt hiểu, tại sao trên này người ta uống nhiều rượu như vậy. Uống để quên đi nỗi buồn hoang hoải hình như lúc nào cũng lẩn quất trên từng cành cây, ngọn núi, cánh rừng.


Minh họa của Thúy Hằng

 Một đêm không ngủ được.

 Trong đêm ấy, đầu tôi chợt nảy ra ý tưởng, tại sao mình không sang bản Gà rủ, Tư Thổ?

 Đúng như tôi dự liệu, Tư Thổ sau khi nghe tôi nói, đồng ý ngay. Nó cũng rất nhớ thủ đô. Nó nói, nếu mà tao với mày trúng quả, tao sẽ về kinh thành, mua nhà gần cái hồ có con rùa to ở cho đã.

Hai thằng chúng tôi âm thầm bắt tay vào chuẩn bị cho chuyến ngược đỉnh Mã Tử. Dự kiến để lên đến đỉnh, phải mất hai ngày. Phải ngủ rừng một đêm. Dịp này đang là mùa đông, khô ráo, rất thuận cho việc leo núi.

Đúng một tuần sau, chúng tôi lên đường. Âm thầm. Từ sáng sớm. Tôi viết giấy nhắn lại anh Vũ là tôi ra An Sơn chơi vài ngày. Nếu tiện xe, tôi có thể về xuôi luôn.

 Đường từ chân dãy Long Sơn lên đến đỉnh cao Mã Tử ước khoảng mười lăm cây số ngược núi. Nhưng cực kỳ khó đi. Chúng tôi định sẽ cắt rừng đi đến chân ngọn Mã Tử rồi lần theo khe suối Ma để lên đỉnh. Gọi là khe Ma, vì đã rất nhiều người bỏ xác ở đấy. Đi theo lòng suối đá, thỉnh thoảng vẫn nhìn thấy một khúc xương người thậm chí là một cái đầu lâu nhe răng trắng ởn nhìn giời. Dân vùng Long Sơn kể rất nhiều về những cái chết ở khe Ma. Chết do lũ ống đổ xuống: một nhóm người đang định lên Mã Tử, ngồi nghỉ hút thuốc lào dưới lòng suối, bất ngờ, một cột nước khổng lồ đổ ập từ trên cao xuống. Không ai chạy kịp. Không một mống nào sống sót. Rồi chết do cây đổ, chết do rắn cắn, chết do ngã từ vách đá, chết do hổ vồ gấu vồ… Rất nhiều kiểu chết. Thế cho nên suối Ma là địa điểm ít người dám đến. Chỉ cần bước qua hòn đá to như cái phản, nơi nước từ suối khe Ma đổ vào dòng suối to, là ai cũng thấy lành lạnh sống lưng. Nhưng khốn nỗi đấy lại là con đường khả dĩ nhất để có thể leo lên đỉnh Mã Tử. Tư Thổ và tôi bảo nhau, hai thằng mình khỏe mạnh, võ nghệ đầy mình, lại có trí thức nữa (mãi sau này tôi mới hiểu là phải dùng từ tri thức mới là đúng. Nhưng lúc ấy, tôi đồng ý với Tư Thổ là trí thức). Mà không leo được lên đỉnh, không chiếm được viên ngọc trời quý giá kia thì còn đợi ai?

 Lòng tràn trề khát vọng đổi đời, hai thằng trai vai đeo ba lô, đầu mũ bông biên phòng bịt tai, chân đi giày vải cao cổ mua lại của bộ đội, tay dao quắm lăm lăm, hăm hở cắt rừng.

 Tôi không kể về quãng đường chúng tôi băng qua bạt ngàn lim già xanh đen. Rồi đến những khu rừng tạp giao rậm rịt đủ thứ cây chen chúc, vừa đi vừa vung dao mở lối. Lên cao thì rừng cứ thưa dần, cây cối nhỏ đi. Có cả một quãng rộng, chỉ toàn là tre trúc. Rồi lên cao nữa, chỉ còn những loài cây dại lúp xúp cùng với cỏ tranh. Những cái gian nan đó, với hai thằng thợ rừng đã khá lão luyện như Tư Thổ và tôi, quá bình thường.

 Nhưng cái đêm mà tôi và Tư Thổ ôm nhau ngủ trong lán. Trong rừng đêm giá rét tưởng đông cứng người lại thì có lẽ tôi không bao giờ quên được.

 Chúng tôi đi khẩn trương. Khát thì vốc nước suối. Mệt thì nhấp ngụm rượu ở cái bi đông mang theo. Tôi cũng đã nhiễm thói quen uống rượu thay nước của dân vùng này. Đói lấy lương khô và thịt sấy gác bếp đã chuẩn bị sẵn ra ăn. Đi từ mờ sáng, đến lúc trời sắp tối, chúng tôi vẫn còn đang miên man trong rừng già. Tôi và Tư Thổ nhanh chóng chặt cây, phạt những cành lá móc, dựng thành một cái lều bên bờ suối. Lòng suối mùa khô chỉ còn tí nước róc rách, đầy những khúc cây gẫy ngổn ngang. Chúng tôi đi khuân về nhóm một đống lửa to để đuổi thú dữ và chống rét. Ăn uống xong, hai thằng nằm lăn ra sàn lều bằng cành cây, lót lá rừng, tự thấy cũng thú vị. Chúng tôi lan man tán chuyện. Từ chuyện hồi học dưới Hà Nội cho đến chuyện làng nọ bản kia. Rồi chuyện tán gái, như một lẽ đương nhiên giữa những thằng trai trẻ. Thỉnh thoảng một thằng dậy, đẩy những khúc cây vào giữa đống lửa cho cháy đượm. Về khuya, cánh rừng yên tĩnh kỳ lạ. Bất chợt, cả khu rừng xung quanh cùng bừng sáng. Những đốm lân tinh xanh lét trên thân cây mục lập lòe ma quái. Thỉnh thoảng, tiếng thú rình mồi sột soạt trong bụi cây. Một vài con chim đêm cất tiếng ai oán như tiếng những linh hồn bị bỏ rơi. Hai thằng trai to gan như tôi và Tư Thổ mà nằm nín thở, ôm chặt cứng lấy nhau, không thằng nào dám dậy đẩy củi vào đống lửa sắp tàn.

 Sáng hôm sau, chúng tôi lên đường sớm. Càng đi thấy đường càng rậm rịt. Cứ như chúng tôi đang lao đầu vào một mớ bùng nhùng những dây leo, gai góc, cây gẫy, tưởng như không có lối thoát. Mặc kệ, hai thằng chúng tôi thay nhau vung dao mở lối. Đá dưới lòng suối trơn nhẫy. Càng lên cao, lòng suối càng ít nước. Đến một quãng, dòng suối chỉ còn là cái khe đá khô cạn, thỉnh thoảng nhìn thấy vài giọt nước nhỏ ra như người ta cất rượu. Biết là sắp lên đến đỉnh. Hai thằng bỏ lòng suối cạn, leo sang sườn núi lởm chởm đá bò dần lên. Khi chúng tôi vừa chui vừa bò qua một dải rừng trúc, bỗng nhiên trước mắt thấy một khoảng cỏ tranh bạt ngàn, gió bắc lạnh buốt thổi ào ạt thành sóng, chấp chới rập rờn như biển. Đỉnh Mã Tử đã ngay trước mắt. Mệt, khát, lạnh, tai buốt do độ cao, hai thằng nằm vật ra sườn núi thở dốc. Tôi vớ cái bi đông rượu đeo bên sườn lắc lắc, vẫn còn vài ngụm. Hai chúng tôi chia nhau những giọt rượu cuối cùng rồi vùng dậy, nhằm đỉnh Mã Tử lao tới. Tim tự nhiên đập dồn dập, tai ù ù, mặt bừng bừng. Hình như khát vọng đổi đời mãnh liệt đã tiếp sức cho hai thân thể đang kiệt quệ sau gần hai ngày leo rừng đến được đỉnh Mã Tử. Lúc ấy đang là giữa trưa. Trời rất quang, đỉnh núi không bị mây mù che phủ sáng bừng rõ ràng trên độ cao một nghìn tám trăm tám mươi ba mét. Một vùng lổn nhổn toàn đá muối xám xịt. Một thứ đá vô vị, hoàn toàn không có hy vọng gì mang ngọc trong ấy. Không có một thứ gì khác. Trơ trọi. Một viên sỏi cuội lấp lánh cũng không. Cũng không có một cái hang truyền thuyết nào cả. Hoang vu. Cô lạnh. Vô dụng.

 Hai thằng nằm vật ra giữa đỉnh núi đá xám lạnh. Nằm rất lâu. Một nỗi thất vọng lớn đến nỗi tôi chỉ mong lúc ấy có một trận động đất, làm cho cả thế giới này tan biến thành bụi. Cả người tôi như đang rơi xuống một cái vực thẳm phiêu diêu. Gió mùa đông bắc bỗng nổi lên dữ dội. Mây đen từ đâu ào ào kéo đến. Cả đỉnh Mã Tử phút chốc chìm trong mây mù ướt át lạnh cóng. Chúng tôi vội chạy vào ẩn bên một tảng đá to. Nhìn nhau rét run cầm cập. Có lẽ sự thất vọng còn làm kiệt sức hơn là cái giá rét. Chúng tôi thiểu não núp sau tảng đá, đầu óc hình như đờ đẫn, tê liệt. Nhưng rồi bản năng sống trước cái chết vì gió rét bùng lên. Hai thằng chúng tôi run rẩy răng đánh lốp cốp bàn nhau cách xuống núi. Nếu không, chắc chắn sẽ chết trên đỉnh Mã Tử. Như Tư Thổ nói, chúng tôi leo từ hướng tây lên rất hiểm trở. Nhưng nếu xuống núi theo hướng đông thì rất nhanh, vì núi bên ấy dỡ dốc hơn và nửa đường có lán của cánh sơn tràng, có thể vào tá túc. Chỉ có điều xuống chân núi rồi, sẽ phải đi bộ đường vòng mấy chục ki lô mét đường rừng để về bản Mền. Chúng tôi nhanh chóng quyết định xuống núi theo hướng đông. Lúc ấy thằng nào cũng chỉ muốn nhanh nhanh ra khỏi cái đỉnh núi hoang cô lạnh. Đi, bò, níu cây, trườn trên cỏ tranh, trượt trên đá. Có lúc ngã lăn lông lốc một quãng xa, vướng vào một búi cây, túm lấy, dừng lại rồi lăn tiếp. Mệt, đói, khát, đau đớn khắp người. Không thằng nào nói với thằng nào, nghiến răng xuống tiếp. Đến gần tối thì nhìn thấy ánh lửa. Không tả được niềm vui sướng của những kẻ lạc rừng ban đêm nhìn thấy ánh lửa. Là cuộc sống. Là đồng loại. Là đường về quê mẹ. Tôi và Tư Thổ vào được lán sơn tràng ở sườn đông Mã Tử. Đến đây, coi như đã sống. Cánh sơn tràng nhìn thấy hai thằng chúng tôi tưởng là hai thằng người rừng lạc vào. Thế mà mới hai hôm trước, chúng tôi đang là những thằng trai đầy mơ ước của các cô gái Long Sơn. Tốp thợ rừng ấy rất tốt, họ cho hai thằng ăn uống đầy đủ. Nghe chúng tôi kể về việc leo lên đỉnh Mã Tử tìm viên ngọc trời, cả bọn cười rung lán. Họ bảo hình như bọn tôi vừa tốt nghiệp trường ngu ba tháng ra. Ở trên cái đỉnh trơ toàn đá ấy thì có cái chó gì mà tìm. Dân bên sườn đông chúng tao mùa hè chả lên hóng mát suốt. Đứng vạch chim ra đái một bãi rồi về. Cái dân bên sườn tây chúng mày u mê nên cứ tưởng trên ấy là thiên đường. Thật lạ là đến giờ vẫn còn có người tin vào những điều hoang đường, nhảm nhí thế.

 Nằm ở lán sơn tràng hai hôm thì Tư Thổ hồi sức, chia tay tôi xuống núi về Long Sơn. Từ ấy trở đi tôi không gặp lại nó nữa. Nghe anh Vũ sau này thỉnh thoảng mang vợ con về quê chơi nói, sau vụ trèo lên Mã Tử, Tư Thổ về bản cưới vợ, yên trí làm vườn rừng. Giờ cũng rất khá.

 Còn tôi, nghe cánh sơn tràng nói là sẽ đóng bè để xuôi, có qua khúc sông làng mình, tôi bèn ngỏ ý xin ở lại làm với họ, để lúc về đến bến thì lên bờ. Cánh sơn tràng đồng ý ngay, tôi thạo việc rừng mà họ cũng cần người làm.

 Thế rồi một tháng sau, chúng tôi đóng xong bè ở suối dưới chân núi. Chúng tôi bắt đầu xuôi. Từ suối nhỏ vừa kéo vừa đẩy ra suối lớn. Cái bè của chúng tôi cứ to dần ra theo độ lớn và độ sâu của dòng suối. Dọc đường, cánh sơn tràng dừng lại các điểm khai thác ghép vào bè thêm gỗ tre, luồng nứa và các thứ lâm sản. Ra đến sông, thì đã là một cái bè to, trên bè có cả lều lán để ngủ.

Tôi lại vô tình được sống một quãng đời giang hồ sông nước.

Đi bè rất vui, có rất nhiều chuyện hay. Nhưng tôi xin khất được kể hầu mọi người vào một dịp khác. Có điều, lững lờ trôi trên cái bè to dọc theo suối ra sông nhỏ, rồi đến sông to là một trải nghiệm thú vị với tôi. Lái bè trên sông rất nhàn, chỉ cần hai người ngồi đầu và cuối để lựa cho trôi đúng dòng là ổn. Còn bọn khác cứ việc nằm khểnh. Thời gian bồng bềnh sông nước, tôi cứ nằm nghĩ lan man. Tôi thấy cuộc đời mình mấy tháng vừa rồi, trải qua những cảm xúc như hai mươi mấy năm dồn lại cũng không bằng. Từ một thằng sinh viên ở thủ đô, dù có đói nhưng vẫn còn sướng chán, tôi về quê, làm xã viên hợp tác xã. Rồi trở thành một tay trai bản chính hiệu, đốn gỗ, làm nương, băng rừng cắt núi thành thạo. Rồi suýt bỏ mạng trên núi lạnh trong một cuộc tìm kiếm ngớ ngẩn. Tôi lại thành ra một kẻ giang hồ sông nước. Thật kỳ lạ. Nằm bồng bềnh trên bè xuôi sông, nhiều lúc tôi cứ nghĩ những cái vừa trải qua không thật. Như trong một giấc mơ. Nhưng khi những cái đói, cái lạnh, những gian nan đi qua rồi, tôi lại thấy những núi sông mình vừa được đi qua thật đẹp, thật hùng vĩ. Những con người mình gặp gỡ trên đường cũng tốt, hồn hậu như dân quê mình, tuy có đôi lúc thô nhám cộc cằn.

 Hôm bè về đến bến sông quê là một ngày xuân ấm áp. Tôi từ biệt mọi người lên bờ. Đúng vào lúc mẹ tôi cũng ra sông gánh nước tưới rau. Mẹ ôm chầm lấy tôi nức nở: “Ôi, ơn trời ơn Phật con đã về. Quê mình giờ khác rồi, ruộng đã chia, nhà mình đã no rồi”.

Nhìn ra sau lưng mẹ là cánh bãi ngô rau đang xanh mướt lạ lùng. Rồi tôi nhìn ra dòng nước, thuyền bè tấp nập rộn rã ngược xuôi. Tiếng còi hụ rền vang. Bên bến sông làng tôi đã lại thấy thuyền về neo đậu. Những con chim én chim nhạn chao liệng lên xuống tung tăng mặt nước.