Phiên họp thứ Ba mươi sáu của UBTVQH 

Xem với cỡ chữ
* Dự án Luật Tố tụng hành chính (sửa đổi): Nếu giao thẩm quyền cho TAND giải quyết khiếu kiện quyết định xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hành chính của TAND, sẽ dẫn đến tình trạng Tòa án vừa ra quyết định vừa tiến hành xét xử đối với quyết định của mình * Dự án Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi): Các nội dung sửa đổi cần đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng xét xử, chấm dứt những trường hợp tồn đọng án và xét xử lòng vòng, không có điểm dừng

Sáng 12.3, dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch QH Uông Chu Lưu, UBTVQH đã cho ý kiến về dự án Luật Tố tụng hành chính (sửa đổi).

Trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện nêu rõ, dự thảo Luật Tố tụng hành chính (sửa đổi) có nhiều quy định mới, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, bảo đảm sự thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác.

Trong Báo cáo thẩm tra, Ủy ban Tư pháp cho biết, hiện dự thảo Luật còn 11 vấn đề có ý kiến khác nhau, gồm: những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân (TAND); phân định thẩm quyền của TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; về địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính; về thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm...

Về những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND, đa số ý kiến thành viên Ủy ban Tư pháp tán thành, nên giữ nguyên các quy định của Luật Tố tụng hành chính hiện hành về thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính của TAND. Đối với việc quy định cụ thể danh mục các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao, Ủy ban Tư pháp đề nghị không quy định chi tiết trong Luật Tố tụng hành chính (sửa đổi) mà quy định trong các văn bản pháp luật về quốc phòng, an ninh, ngoại giao... Nhất trí với loại trừ khởi kiện quyết định xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của TAND ra Tòa hành chính, Ủy ban Tư pháp cho rằng, nếu giao thẩm quyền cho TAND giải quyết khiếu kiện quyết định xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hành chính của TAND, sẽ dẫn đến tình trạng Tòa án vừa ra quyết định xử lý hành chính, vừa tiến hành xét xử vụ án hành chính đối với chính quyết định của mình. Theo Chủ tịch Hội đồng Dân tộc K’sor Phước, trong trường hợp TAND đã ra quyết định xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng rồi lại giao cho TAND giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính khi có đơn khởi kiện đối với loại quyết định này là không khả thi, không bảo đảm tính khách quan, vì quyết định xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án là quyết định đặc thù, được ban hành trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Về thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, các thành viên UBTVQH tán thành với quy định của dự thảo Luật về thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính gồm 1 Thẩm phán và 2 Hội thẩm nhân dân như quy định của Luật hiện hành. Quy định hiện hành đã thể hiện được tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về quyền lực của nhân dân, vai trò của nhân dân giám sát hoạt động xét xử của TAND, thể hiện bản chất dân chủ nhân dân của Nhà nước ta.

Buổi chiều, tiếp tục dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch QH Uông Chu Lưu, UBTVQH đã cho ý kiến về dự án Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi).

Theo Tờ trình về dự án Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình trình bày cho biết, qua 10 năm thi hành (từ ngày 1.1.2012), một số quy định của Bộ luật đã không theo kịp nhu cầu của nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp nảy sinh trong đời sống xã hội; quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong tố tụng dân sự cần tiếp tục được sửa đổi, bổ sung, đặc biệt là các quy định về chứng cứ, cung cấp chứng cứ và quyền tiếp cận chứng cứ... Việc QH thông qua Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) năm 2014 cũng đặt ra yêu cầu sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự, để kịp thời tháo gỡ khó khăn trong giải quyết, xét xử các vụ việc dân sự, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.

Trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện nêu rõ, Ủy ban Tư pháp tán thành với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Bộ luật. Dự án Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) được chuẩn bị công phu trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự và có nhiều quy định mới, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, thể hiện được tinh thần cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2.6.2005 và Kết luận số 79-KL/TW ngày 28.7.2010 của Bộ Chính trị. Tuy nhiên, Ủy ban Tư pháp lưu ý, dự án Bộ luật chỉ nên sửa đổi, bổ sung các vấn đề thật sự cần thiết, làm rõ lý do của việc sửa đổi, bổ sung; khắc phục được những bất cập, tồn tại, hạn chế của các quy định hiện hành, đồng thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn về số lượng các vụ việc dân sự ngày càng gia tăng, quá tải.

Tán thành với nội dung thẩm tra của Ủy ban Tư pháp, các Ủy viên UBTVQH cho rằng, cơ quan soạn thảo cần rà soát lại dự án Bộ luật, bảo đảm các quy định sửa đổi, bổ sung đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng xét xử, chấm dứt những trường hợp tồn đọng án và xét xử lòng vòng, xử đi, xử lại không có điểm dừng. Đối với những quy định hiện hành đã và đang phù hợp với thực tế thì không cần thiết phải sửa đổi, bổ sung.

Liên quan đến nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự, cơ quan thẩm tra và cơ quan soạn thảo đều thống nhất cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm. Thực hiện đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử... nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý cho rằng, dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) mới chỉ quy định rõ ràng nguyên tắc tranh tụng ở cấp xét xử sơ thẩm. Vậy ở giai đoạn xét xử khác là phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm có nguyên tắc tranh tụng không? Nếu có thì tại sao dự thảo Bộ luật không thể hiện rõ nguyên tắc này trong giai đoạn phúc thẩm, tái thẩm và giám đốc thẩm?

H. Ngọc - T. Thành