CÔNG NGHỆ - MÔI TRƯỜNG
Cập nhật 12:57 | 22/08/2019 (GMT+7)
.

Thách thức mới

19:44 | 07/08/2019
Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia năm 2018 đã đánh giá tổng thể, toàn diện môi trường nước trên các lưu vực sông, phân tích các nội dung liên quan đến nguồn gây ô nhiễm, đặc trưng nước thải của các nguồn thải; hiện trạng và diễn biến chất lượng môi trường nước trên các lưu vực sông. Với những diễn biến khó lường của biến đổi khí hậu, vấn đề môi trường hiện đang đặt ra rất nhiều thách thức cho toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Cùng với những yếu tố liên quan đến nước và tài nguyên từ nước, tình hình khí tượng hiện nay cũng đòi hỏi công tác dự báo phải nỗ lực không ngừng.

Lượng nước có sẵn chỉ chiếm khoảng 37%

Theo thông tin từ Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN - MT), hiện nay, trên toàn thế giới có khoảng 1,9 tỷ người sống trong các khu vực khan hiếm nước; 2,1 tỷ người không được tiếp cận các dịch vụ về nước uống bảo đảm an toàn. Dự kiến, đến năm 2050, dân số thế giới sẽ tăng thêm khoảng 2 tỷ người và nhu cầu về nước toàn cầu có thể tăng lên tới 30% so với hiện nay. Nông nghiệp hiện sử dụng khoảng 70% lượng nước toàn cầu, chủ yếu là để tưới tiêu - con số này sẽ tăng lên ở các vùng có áp lực nước và mật độ dân số cao. Ngành công nghiệp chiếm 20% tổng nhu cầu sử dụng nước, chủ yếu là dùng trong ngành công nghiệp năng lượng và sản xuất. 10% còn lại sử dụng cho sinh hoạt - tỷ lệ sử dụng nước uống chỉ nhỏ hơn 1%. Trên toàn cầu, ước tính trên 80% lượng nước thải xả ra môi trường tự nhiên mà không được xử lý hoặc tái sử dụng.


Huy động nguồn lực bảo vệ tài nguyên nước

Việt Nam được đánh giá là quốc gia thiếu nước, với tổng lượng nước mặt trung bình hằng năm khoảng 830 tỷ m3 (vì theo chỉ tiêu đánh giá của Hội Tài nguyên nước quốc tế, quốc gia được coi là thiếu nước nếu chưa có đến 4.000 m3/người/năm. Việt Nam khoảng 3.370 m3/người/năm từ nguồn nước nội sinh), phân bố chủ yếu ở các lưu vực sông: Cửu Long, Hồng, Thái Bình, Ðồng Nai, chiếm gần 80% tổng lượng nước mặt của cả nước. Trong khi đó, hơn 60% số lượng nước được sản sinh từ nước ngoài, chỉ có khoảng 310 tỷ m3 được sản sinh trên lãnh thổ Việt Nam và trữ lượng nước dưới đất khoảng 63 tỷ m3/năm... Theo Cục trưởng Quản lý Tài nguyên nước, Bộ TN - MT Hoàng Văn Bẩy: Lượng nước sinh ra ở phần lãnh thổ Việt Nam chỉ chiếm khoảng 37%, còn lại là xuất phát từ bên ngoài lãnh thổ, trong khi đó nhu cầu về nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất ngày càng tăng. Ðiều đó đang đặt ra những thách thức to lớn về an ninh nguồn nước.

Thông tin từ Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã khoanh định các vùng có khả năng chứa nước, đánh giá các nguồn nước dưới đất; xác định các nguồn có khả năng cung cấp nước phục vụ sinh hoạt cho nhân dân tại 108 vùng, thuộc 21 tỉnh. Tổng số công trình đủ điều kiện để có thể bàn giao và đưa vào khai thác sử dụng là 236 công trình, với tổng lưu lượng khai thác đạt 72.720m3/ngày. Các công trình khai thác đã được kết cấu, xây dựng kiên cố, đạt mục tiêu khai thác, sử dụng lâu dài với lưu lượng bảo đảm và chất lượng nước tốt, đủ đáp ứng nhu cầu cấp nước sinh hoạt cho 1,2 triệu người với định mức 60 lít/người/ngày.

Những giải pháp

Trước thực trạng nêu trên, thời gian qua, công tác điều tra tài nguyên nước mặt, nước ngầm ở Việt Nam được chú trọng, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ TN - MT phối hợp các bộ, ngành liên quan và các địa phương tập trung điều tra, đánh giá, tìm kiếm nguồn nước phục vụ chống hạn cho vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng khan hiếm nước, phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn và ứng phó với biến đổi khí hậu. Triển khai Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Bộ TN - MT cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt sáu quy trình trên lưu vực các sông: Hồng, Mã, Sê San, Ba, Trà Khúc và Kôn - Hà Thanh. Tập trung kiểm soát, quản lý chặt chẽ quy trình vận hành, bảo đảm việc điều tiết khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, thông minh các nguồn nước phục vụ đa mục tiêu, đáp ứng cho sản xuất, giảm lũ và phát điện. Mặt khác kiên quyết xử lý các hành vi xả thải chưa đạt quy chuẩn vào môi trường, vi phạm trong việc vận hành giảm lũ cho hạ du, điều tiết nước trong mùa cạn, bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu của các hồ... Bên cạnh đó, nhằm đẩy mạnh kinh tế hóa trong quản lý tài nguyên nước, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên nước, nâng cao mức đóng góp cho nền kinh tế, Bộ TN - MT đã phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, với số tiền hơn bảy nghìn tỷ đồng. Các địa phương đã phê duyệt cho gần 750 đơn vị, với số tiền phải thu là hơn 106 tỷ đồng...

Thứ trưởng Bộ TN - MT Lê Công Thành cho biết: Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, để bảo đảm việc sử dụng nước hiệu quả và bền vững, thời gian qua tại Việt Nam công tác điều tra tài nguyên nước mặt, nước ngầm được chú trọng và tăng cường bằng việc tập trung tìm kiếm nguồn nước sinh hoạt phục vụ chống hạn cho vùng cao, vùng khan hiếm nước, phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn và ứng phó với biến đổi khí hậu. Ðiển hình như năm 2018, ngành tài nguyên nước đã công bố việc tìm thấy nước ngọt tại đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng). Hai lỗ khoan (BLV1 và BLV2) thành công tại huyện đảo tiền tiêu Bạch Long Vĩ với độ sâu 80 m, cho lưu lượng là 0,526l/s và 0,35l/s nước ngọt, tương đương với lưu lượng tổng cộng là 75m3/ngày. Phát hiện này đã góp phần quan trọng trong việc mở ra hướng giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt cho nhân dân các khu vực miền núi, biên giới, hải đảo của nước ta; đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Ngoài ra, Việt Nam cũng đang tập trung đầu tư hệ thống quan trắc chất lượng nguồn nước, hệ thống giám sát các hoạt động xả nước thải vào nguồn nước, hệ thống giám sát quy trình vận hành các hồ chứa thủy lợi, thủy điện trên các lưu vực sông để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước cho các dòng sông…

Trong thời gian tới, Bộ TN - MT cũng sẽ tăng cường triển khai xây dựng, hoàn thiện các trạm quan trắc tài nguyên nước; giám sát việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải; theo dõi, đánh giá, dự báo tình hình suy thoái, cạn kiệt, xâm nhập mặn nguồn nước; thực hiện các giải pháp phòng, chống khô hạn, xâm nhập mặn, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, trước mắt ưu tiên những vùng bị ảnh hưởng nặng. Tăng cường khả năng trữ nước thông qua các giải pháp phi công trình trong quản lý nguồn nước dựa vào xu thế tự nhiên trên cơ sở dự báo dài hạn về khí hậu, thủy văn, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long, duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Ðồng thời, tiếp tục đôn đốc các địa phương hoàn thành danh mục nguồn nước và tổ chức cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước nhằm bảo đảm sự lưu thông dòng chảy, khả năng thoát lũ, phòng chống sạt lở lòng bờ, bãi sông, hướng tới xanh hóa các dòng sông. Ðẩy nhanh tiến độ các chương trình, dự án bảo đảm nước sạch và vệ sinh cho mọi người, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biển, hải đảo, vùng khan hiếm nước…

Tùng Lâm
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang