CÔNG NGHỆ - MÔI TRƯỜNG
Cập nhật 22:21 | 21/10/2017 (GMT+7)
.

GLTT "Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ"

21:42 | 15/06/2017
Chuyển giao công nghệ (CGCN) là con đường tất yếu để mỗi quốc gia giải quyết tốt các vấn đề khoa học nằm ngoài khả năng của mình. Tại Việt Nam, Luật CGCN 2006 ra đời khẳng định vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động đổi mới và CGCN trong nước, CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ (KHCN) trong sản xuất và đời sống, từng bước giúp cải thiện năng lực công nghệ của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Quang cảnh khai mạc giao lưu trực tuyến

Trần Văn Tuấn (40 tuổi), Đà Nẵng: Thưa ông, xin ông cho biết bức tranh tổng quát về hoạt động CGCN hiện nay cũng như những khó khăn, thuận lợi trong hoạt động này? Vai trò của Bộ KHCN trong việc triển khai hoạt động ứng dụng, CGCN tại Việt Nam thời gian qua như thế nào?
 
Vụ trưởng Đỗ Hoài Nam: Luật CGCN 2006 đã góp phần thúc đẩy hoạt động đổi mới và CGCN trong nước, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất và đời sống, từng bước giúp cải thiện năng lực công nghệ của doanh nghiệp và nền kinh tế, nâng cao tốc độ tăng trưởng của các ngành, lĩnh vực. Thông qua hoạt động CGCN, một số ngành, lĩnh vực như công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học, tự động hóa và vật liệu mới đã tiếp nhận và làm chủ những công nghệ tiên tiến, đáp ứng yêu cầu của công cuộc CNH-HĐH đất nước. Thông qua CGCN của dự án FDI, nhiều công nghệ tiến tiến, công nghệ mới đã được chuyển giao vào Việt Nam, đặc biệt là trong các lĩnh vực dầu khí, điện tử, viễn thông, xây dựng cầu, đường... Nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, tài nguyên được khai thác và sử dụng tương đối hiệu quả. Đi liền với CGCN, đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật trong một số ngành, lĩnh vực đã tiếp thu được kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm quản lý tiên tiến trên thế giới. Ngoài ra, CGCN còn góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, năng lực công nghệ trong nước được nâng cao.

Tuy nhiên, những kỳ vọng về việc tiếp nhận được công nghệ tiên tiến, hiện đại từ nước ngoài qua dự án FDI chưa đạt được. Trình độ công nghệ trong một số ngành vẫn ở mức trung bình, năng suất lao động thấp, mức độ lan tỏa công nghệ từ khu vực FDI sang khu vực doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.

Văn Hùng (46 tuổi), Hà Nội: Trong thực hiện dự án luật, có ý kiến cho rằng Luật CGCN năm 2006 cũng bộc lộ một số vấn đề không còn phù hợp với thực tế? Ông có đồng tình với ý kiến trên không? Và những vấn đề không phù hợp với thực tế là vấn đề gì, thưa ông?
 


Ông Trương Minh Hoàng– Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của QH đang giao lưu cùng bạn đọc
Phó chủ nhiệm Trương Minh Hoàng: Qua 10 năm thực hiện, Luật CGCN năm 2006 đã tạo ra một số bước tiến khá rõ. Qua triển khai, đã huy động hơn 5.900 đơn vị tham gia chào bán với gần 25.000 thiết bị công nghệ. Thực tế đã ký kết 6.778 hợp đồng, biên bản ghi nhớ CGCN. Rõ ràng, luật đã góp phần thúc đẩy quá trình CGCN trong cả nước. Thực tế triển khai Luật CGCN năm 2006 bộc lộ một số vướng mắc, bất cập, cần thiết phải sửa đổi cho phù hợp. Trong Luật CGCN năm 2006 không bắt buộc đăng ký CGCN tại các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, các doanh nghiệp tự do CGCN mà chưa có các quy định kiểm soát chất lượng công nghệ chuyển giao. Chưa có sự kiểm soát của các cơ quan nhà nước, trừ các công nghệ hạn chế chuyển giao. Điều này giúp công nghệ được tự do chuyển giao, tuy nhiên, do chưa có cơ chế quản lý, kiểm soát nên rất nhiều công nghệ lỗi thời, lạc hậu, công nghệ cũ, công nghệ tiêu tốn nhiên liệu, gây ô nhiễm môi trường được nhập về Việt Nam. Mặt khác, các chính sách khuyến khích CGCN trong luật hiện hành chưa rõ ràng, chưa thúc đẩy doanh nghiệp CGCN. Ngoài ra, một số đạo luật mới ban hành đưa ra nhiều quy định mới như Luật KH-CN, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp.... đòi hỏi cần sửa đổi Luật về CGCN cho phù hợp trong giai đoạn phát triển mới.

Lê Thu (41 tuổi), Hải Phòng: Được biết, đơn vị ông đã có nhiều thành tựu, kinh nghiệm trong hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và CGCN. Xin ông cho biết một số kết quả, thành tựu nổi bật thời gian qua?

Viện trưởng Phạm Anh Tuấn: Với đặc thù là Viện nghiên cứu ứng dụng thuộc lĩnh vực CĐNN&CNSTH phục vụ sản xuất nông nghiệp, định hướng nghiên cứu và CGCN, chúng tôi tập trung vào 2 đối tượng là người nông dân và doanh nghiệp kinh doanh sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp. Đánh giá chung trong thời gian 10 năm qua:


TS Phạm Anh Tuấn- Viện trưởng Viện Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang giao lưu cùng bạn đọc

Các kết quả nghiên cứu và CGCN ở quy mô hộ, liên hộ (đối tượng người nông dân, tổ HTX): Các quy trình công nghệ sơ chế, bảo quản và chế biến nông sản (rau, củ, quả, hạt nông sản…); Các thiết bị đơn lẻ sơ chế, sấy và kho bảo quản quy mô hộ liên hộ; Các quy trình vận hành và bảo dưỡng máy nông nghiệp. Đặc biệt, Viện còn đào tạo bồi dưỡng tập huấn kỹ thuật cho bà con nông dân và các kỹ thuật viên trong hệ thống khuyến nông các tỉnh. Nhìn chung, về giá trị CGCN với đối tượng này là không lớn nhưng có ý nghĩa tác động đến kinh tế - xã hội là rất lớn vì góp phần nâng cao trình độ, thay đổi tập quán canh tác, năng lực quản lý theo chuỗi giá trị của người nông dân.

Các kết quả nghiên cứu và CGCN ở quy mô công nghiệp (đối tượng là các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp): Nhiều dây chuyền thiết bị công nghệ đồng bộ có trình độ công nghệ tiên tiến so với khu vực và thế giới từ kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án thuộc cấp Bộ và cấp Nhà nước đã được triển khai đưa vào thực tiễn sản xuất có hiệu quả, với chi phí đầu tư thấp hơn, khoảng bằng 35 - 40% giá nhập khẩu. Ví dụ như dây chuyền thiết bị chế biến thức ăn chăn nuôi hoàn toàn tự động, năng suất 2 - 10 tấn/giờ; Dây chuyền thiết bị chế biến hạt giống, năng suất 1 -2 tấn/giờ; Dây chuyền thiết bị chế biến nhựa thông, quy mô 5.000 - 10.000 tấn sản phẩm/năm; Các hệ thống thiết bị sấy nông sản quy mô công nghiệp; Các dây chuyền sơ chế, bao gói bảo quản rau, củ quả, năng suất 1 -2 tấn/giờ; Các dây chuyền thiết bị đồng bộ chế biến và bảo quản lạnh đông (thủy, súc sản, gia cầm) quy mô công nghiệp… Nhiều sản phẩm KHCN nổi bật trên đã đạt được các giải thưởng trong nước và quốc tế, góp phần đáng kể về tăng trưởng của ngành nông nghiệp, trong đó có doanh nghiệp có mức tăng trưởng cao như Tổng công ty cổ phần Thông Quảng Ninh sản lượng chế biến nhựa thông từ 2.700 tấn sản phẩm/năm (2007) đến nay đã đạt trên 30.000 tấn/năm gấp hơn 10 lần (doanh số tương ứng khoảng 1.300 tỷ đồng/năm), về chất lượng sản phẩm xuất khẩu trên sàn quốc tế từ thứ 4 (năm 2006) đến nay đứng top số 1 trong các nước xuất khẩu.

Trần Mạnh Linh (42 tuổi), Cần Thơ: Là đơn vị có nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất và chuyển giao giống cây trồng và có hợp tác, liên doanh với đối tác nước ngoài. Ông có thể cho biết những hoạt động, kết quả CGCN hiệu quả trong thời gian qua? Công ty ông có gặp những khó khăn, thuận lợi gì trong quá trình triển khai?

Tổng Giám đốc Trần Mạnh Báo: Xin cảm ơn câu hỏi của bạn, đây là câu hỏi hay và phù hợp với tình hình chuyển giao công nghệ ở giai đoạn này. Trong quá trình phát triển của ThaiBìnhSeed có lịch sử rất dài với hơn 50 năm phát triển. Năm 1966, Thái Bình đã lập kỳ tích là tỉnh đầu tiên đạt năng suất lúa đạt 5 tấn/ha/năm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm, động viên và biểu dương nông dân Thái Bình và người căn dặn: Muốn tăng năng suất lúa hơn nữa, phải xây dựng hệ thống cung cấp giống tốt cho nông dân. Và hệ thống cung cấp hạt giống Thái Bình đã ra đời từ đó. Sau đó, Thái Bình liên tục là tỉnh có năng suất lúa cao nhất cả nước.


Ông Trần Mạnh Báo Tổng giám đốc Công ty CP Giống cây trồng Thái Bình đang giao lưu cùng bạn đọc

Trong cùng một điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, cơ chế quản lý giống nhau, năng suất lúa của Thái Bình luôn cao hơn các tỉnh đồng bằng duyên hải Bắc Bộ thậm chí hàng tấn lúa/ha. Nguyên nhân chính được các nhà khoa học chỉ ra là do Thái Bình có hệ thống chuyển giao và cung cấp giống lúa cho nông dân tốt nhất. Từ khi chúng ta đổi mới nền kinh tế đất nước 1986, đòi hỏi chúng ta phải ứng dụng KHCN và CGCN vào sản xuất trong cả nước, đây cũng được coi là chiến lược của ThaiBinh Seed.

Trong chiến lược của ThaiBinhSeed có 3 trụ cột được tóm gọn bằng 6 chữ "Trí tuệ - Công nghệ - Quan hệ". Điều này nhấn mạnh vị trí con người lên hàng đầu, con người phải có trình độ khoa học, có đủ khả năng nghiên cứu, hợp tác, hội nhập, tiếp thu và CGCN trong đó công nghệ quản lý và công nghệ kỹ thuật. Bên cạnh đó, CGCN là cơ sở phát triển và mở rộng quan hệ hợp tác. 3 trụ cột đi liền và hỗ trợ cho nhau.

ThaiBinhSeed đặc biệt quan tâm đến CGCN từ trình độ cao hơn. Vì vậy ThaiBinhSeed đã tham gia hiệp hội giống Châu Á- Thái Bình Dương, quan hệ hợp tác với tất cả các Viện nghiên cứu, các trường đại học chuyên ngành trong nước và rất nhiều viện nghiên cứu và trường đại học nước ngoài để CGCN về giống cây trồng . Chính vì vậy ThaiBinhSeed là một trong những doanh nghiệp có cơ sở cho ngành giống cây trồng hàng đầu Việt Nam, là giống cây trồng chủ lực của Nam Trung bộ và miền Bắc. Đối với đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), chúng tôi đang nghiên cứu đưa giống cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và sinh thái bằng việc hợp tác với viện nghiên cứu lúa ĐBSCL (OMON). ThaiBinhSeed gặp thuận lợi chính sách nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi, về Luật CGCN , các quy định nhà nước hỗ trợ cho doanh nghiệp CGCN giúp cho doanh nghiệp được tiếp thu các công nghệ từ viện nghiên cứu trong và ngoài nước. Không chỉ trong Luật CGCN mà còn do chính sách phát triển kinh tế, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về liên kết 4 nhà, đây là những thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp ThaiBinhSeed đạt được. Hiện nay, chúng tôi đã đem lại 15% giống lúa cho cả nước. Tuy nhiên, chúng tôi cũng gặp những khó khăn khi cơ sở pháp lý cho việc thực hiện tất cả hoạt động KHCN chưa đồng bộ, chặt chẽ, còn chồng chéo giữa các văn bản pháp luật liên quan đến KHCN nông nghiệp có khác với các ngành khác dẫn đến chưa đồng bộ hành lang pháp lý. Khi phát triển kinh tế, hội nhập ngày càng sâu, các văn bản pháp lý bộc lộ những hạn chế, không còn phù hợp, chậm thay đổi. Cơ sở nguồn nhân lực chuyển giao, tiếp nhận KHCN còn hạn hẹp. Sự liên kết giữa hệ thống nghiên cứu nhà nước và doanh nghiệp chưa tốt dù có Quyết định 80 liên kết 4 nhà nhưng vai trò của doanh nghiệp chưa được đánh giá đúng, chưa là trụ cột của mối liên kết này. Tính liên kết của các doanh nghiệp với cơ sở quản lý nhà nước và các nhà khoa học còn lỏng lẻo. KHCN chưa chuyển đến được nông dân, không tạo được hiệu quả cao. Nhận thức của xã hội về CGCN chưa xác định được chủ thể, thường mặc định là cơ quan KHCN nhưng thực chất doanh nghiệp mới là đơn vị tổ chức và đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng. Chính vì vậy, chúng ta chưa thấy vai trò nghiên cứu của KHCN, đây là hạn chế lớn nhất và làm kiềm chế sự phát triển.

Nguyễn Quốc Khánh (43 tuổi), Đống Đa, Hà Nội: Thưa ông, với các quy định trong dự thảo Luật CGCN sửa đổi lần này liệu có bảo đảm hạn chế chuyển giao những công nghệ lạc hậu, có tác động xấu đến môi trường từ nước ngoài vào Việt Nam? Luật đã làm rõ được trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khi để các công nghệ lạc hậu tuồn vào Việt Nam hay chưa?

Phó chủ nhiệm Trương Minh Hoàng: Xuất phát từ những hạn chế, vướng mắc như đã nêu, trong quá trình sửa đổi, Luật CGCN lần này hướng đến dần kiểm soát chất lượng công nghệ đưa vào Việt Nam, hạn chế các công nghệ lạc hậu, công nghệ gây ô nhiễm môi trường. Dự thảo Luật cũng tính đến giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước đối quá trình CGCN, vừa bảo đảm kiểm soát được công nghệ, vừa không gây phiền hà cho doanh nghiệp. Quan điểm xây dựng Luật là ngăn chặn công nghệ lạc hậu chuyển giao vào Việt Nam, đồng thời thúc đẩy CGCN tiên tiến, hiện đại.

Dự thảo Luật cũng quy định cấm chuyển giao các loại công nghệ hủy hoại tài nguyên thiên nhiên môi trường, gây hậu quả xấu đến sức khỏe con người; các loại công nghệ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Hạn chế chuyển giao các loại công nghệ kèm theo máy móc thiết bị cũ, hiệu suất, chất lượng thấp; công nghệ máy móc không còn sử dụng phổ biến ở các quốc gia đang phát triển; công nghệ nhân giống các loại cây trồng vật nuôi chưa rõ đặc tính sinh học...

Mặt khác, dự thảo Luật cũng đã quy định rõ chế tài đối với các cơ quan có thẩm quyền được giao thẩm định công nghệ các dự án đầu tư, nếu để xảy ra việc CGCN lạc hậu gây ra các hậu quả xấu. Đồng thời, căn cứ mức độ vi phạm của các tổ chức, cá nhân cũng sẽ bị xử lý hành chính, hình sự nếu để xảy ra vi phạm theo quy định của Luật này và các luật liên quan.

Trần Thuận Đồng (45 tuổi), Hồng Bàng, Hải Phòng: Ông có thể cho biết những chính sách của nhà nước về CGCN nói chung và CGCN trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng?


Ông Đỗ Hoài Nam- Vụ trưởng Vụ Đánh giá Thẩm định và Giám định công nghệ, Bộ Khoa học, Công nghệ đang giao lưu cùng bạn đọc

Vụ trưởng  Đỗ Hoài Nam: Chính sách của nhà nước đối với hoạt động chuyển giao công nghệ nói chung vẫn là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt động CGCN; phát triển thị trường KHCN, hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia với doanh nghiệp là trung tâm; nâng cao trình độ, tiềm lực công nghệ quốc gia nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển nhanh và bền vững KT - XH. Đẩy mạnh CGCN  tiên tiến, công nghệ cao từ nước ngoài vào Việt Nam; khuyến khích CGCN từ Việt Nam ra nước ngoài; thúc đẩy CGCN trong nước. Trong đó ưu tiên CGCN cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ sạch, ngăn chặn công nghệ lạc hậu, công nghệ gây ảnh hưởng xấu đến KT - XH, quốc phòng, an ninh, môi trường, sức khỏe con người.

Riêng đối với nông nghiệp, chính sách của nhà nước cũng hết sức chú trọng đến việc bố trí nguồn lực đầu tư cho hoạt động CGCN trong nông nghiệp, nông thôn; chú trọng hoạt động CGCN ở địa bàn có điều kiện KT - XH khó khăn, đặc biệt khó khăn.

Trong dự thảo Luật đã dành một điều để quy định về CGCN trong nông nghiệp với những phương thức đặc thù, dành riêng cho CGCN trong ngành nông nghiệp.

Lê Duy Thông (46 tuổi), Bình Thạch, Tp Hồ Chí Minh: Trong quá trình hoạt động ứng dụng, CGCN thực tiễn, đơn vị đã gặp những thuận lợi, khó khăn gì, thưa ông?

Viện trưởng Phạm Anh Tuấn: Về thuận lợi: Thứ nhất, tác động của “Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng “nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” đã có sức lan tỏa mạnh. Thứ hai, xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng có tác động tích cực đến sản phẩm hàng hóa và tính cạnh tranh. Thứ ba, số lượng doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp liên tục gia tăng nhờ cơ chế chính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp. Thứ tư, nhu cầu đầu tư đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm đã tạo môi trường thuận lợi cho thị trường KHCN phát triển. Cụ thể đầu năm 2017, Viện chúng tôi đã phối hợp với Cục ứng dụng và Phát triển công nghệ, Bộ KH và CN, xây dựng và đưa vào hoạt động Trung tâm kết nối cung - cầu công nghệ toàn cầu, đây là nơi kết nối trực tuyến giới thiệu chào hàng, tiếp nhận và xử lý thông tin công nghệ trong và ngoài nước, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nghiên cứu và CGCN của các viện, trường, doanh nghiệp…

Về khó khăn: Khó khăn đối với các viện nghiên cứu nói chung là đội ngũ cán bộ khoa học có kinh nghiệm trong nghiên cứu ứng dụng và CGCN ngày càng thiếu hụt, trong đó tập trung số cán bộ đến tuổi nghĩ chế độ nhiều, trong khi lực lượng kế cận còn thiếu…, nhu cầu thị trường ngày càng lớn và có yêu cầu cao hơn. Bên cạnh đó, tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp còn ít, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ, vốn đầu tư thấp nên khó tiếp cận và chuyển giao những công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây đã có tín hiệu đáng mừng khi một số doanh nghiệp lớn đã quan tâm và định hướng đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Hy vọng trong thời gian tới, sẽ có nhiều doanh nghiệp lớn chú ý quan tâm đầu tư hơn.

Đặng Văn Thống (43 tuổi), Cẩm Khê, Phú Thọ: Là doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông nghiệp, ông có thể cho biết các doanh nghiệp trong ngành nói chung cũng như Tổng Công ty Giống cây trồng Thái Bình nói riêng sẽ có chuyển biến như thế nào từ những thay đổi, đổi mới của Luật CGCN sửa đổi so với Luật CGCN năm 2006?

Tổng Giám đốc Trần Mạnh Báo: Đây cũng là một kỳ vọng của chúng tôi, những người làm khoa học, các doanh nghiệp. Chúng tôi hi vọng sau khi Luật sửa đổi được ban hành sẽ góp phần thúc đẩy khoa học, CGCN để đưa nông nghiệp phát triển.

Chúng tôi có chiến lược 2020- 2030 vẫn lấy KHCN là chủ yếu, trong thời gian tới, chúng tôi sẽ đưa ra rất nhiều các sản phẩm KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và việc phát triển các giống cây trồng nói chung... Chúng tôi đang nghiên cứu, phát triển các giống cây trồng mới có tính chống chịu tốt hơn với những điều kiện bất thuận của điều kiện biến đổi khí hậu, có tính thích ứng tốt hơn, giá trị kinh tế cao hơn. Chúng tôi ứng dụng công nghệ mới trong chế biến, bảo quản để cung ứng giống với trình độ cao hơn Việt Nam hiện nay bằng việc ký hợp đồng với các nước phát triển. Chủ động khai thác thiết bị, công nghệ,... tôi nghĩ điều này sẽ làm thay đổi diện mạo công nghệ giống cây trồng việt Nam. Chúng tôi sẽ triển khai ứng dụng KHCN và CGCN trong việc nghiên cứu, sản xuất, chế biến, bảo quản thực phẩm sạch

Bùi Thu Thủy (47 tuổi), Cầu Giấy,Hà Nội: Tôi là người nghiên cứu khoa học, xin được hỏi Phó chủ nhiệm, phải chăng, chúng ta chưa có nhiều chính sách thu hút được công nghệ cao, công nghệ tiên tiến vào Việt Nam cũng như một số hạn chế trong việc quản lý các luồng công nghệ. Vậy Luật CGCN sửa đổi lần này có các cơ chế, chính sách gì để khắc phục tình trạng này?


Phó chủ nhiệm Trương Minh Hoàng: Như tôi đã nói, Luật hiện hành thiếu các cơ chế kiểm soát dẫn đến nhiều công nghệ lạc hậu tuồn về Việt Nam, việc kiểm soát công nghệ có nơi, có lúc bị thả nổi. Về việc thu hút công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, chúng ta đã có nhiều chính sách về vấn đề này. Đây cũng là một trong những mục tiêu trong thu hút đầu tư FDI. Chúng ta cũng đã hình thành các khu công nghiệp công nghệ cao ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Thủ tướng Chính phủ cũng đã chỉ đạo hình thành các khu công nghệ cao về các lĩnh vực chuyên ngành. Các chính sách thu hút công nghệ cao, công nghệ tiên tiến đã có, nhưng tôi nghĩ cần tiếp tục có các chính sách đủ sức hấp dẫn. Dự thảo Luật lần này tiếp tục đưa ra các chính sách khuyến khích CGCN đối với các loại công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ hiện đại. Luật cũng hướng đến mở rộng Quỹ phát triển KH-CN của doanh nghiệp theo hướng doanh nghiệp sử dụng Quỹ này để đầu tư, đối ứng vốn, nhận vốn đối ứng cho việc ươm tạo công nghệ... Đồng thời, các chính sách khuyến khích CGCN từ các luật khác cũng được hệ thống hóa trong luật này.

Chu Quốc Thành (39 tuổi), Vinh, Nghệ An: Dự thảo Luật CGCN sửa đổi đang được trình Quốc hội, dự kiến sẽ xem xét thông qua vào 19.6 tới, xin ông cho biết những điểm khác biệt, điểm mới của Luật CGCN sửa đổi lần này?

Vụ trưởng Đỗ Hoài Nam: Dự thảo Luật CGCN (sửa đổi) có những điểm mới như sau:

Thứ nhất, Luật dành một chương để quy định về công tác thẩm định công nghệ dự án đầu tư nhằm ngăn chặn công nghệ, thiết bị lạc hậu chuyển giao vào Việt Nam.

Thứ hai, về phát triển thị trường KHCN, dự thảo Luật quy định một số cơ chế hỗ trợ, khuyến khích để phát triển nguồn cung, thúc đẩy nguồn cầu và phát triển các tổ chức trung gian của thị trường KHCN.

Thứ ba, Dự thảo Luật quy định một số giải pháp nhằm giải quyết những vướng mắc từ thực tiễn đối với việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, cụ thể là giao quyền đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; công bố kết quả hoạt động KHCN phục vụ nhu cầu đổi mới, sáng tạo của tổ chức, cá nhân; hỗ trợ hoạt động liên kết giữa tổ chức KHCN sở hữu kết quả hoạt động KHCN với tổ chức ứng dụng, CGCN địa phương.

Thứ tư, để thúc đẩy CGCN trong nông nghiệp, Dự thảo Luật đã dành 1 điều quy định về hoạt động CGCN trong nông nghiệp, trong đó quy định hình thức CGCN đặc thù trong nông nghiệp.

Thứ năm, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động thẩm định, CGCN.

Đặng Kim Dung (40 tuổi), Lục Ngạn, Bắc Giang: Theo tôi thấy khâu chế biến, bảo quản sau thu hoạch và phát triển thị trường cho nông sản đang là khâu quan trọng nhưng lại là điểm yếu nhất của ngành chế biến nông sản Việt Nam. Ví dụ như vải thiều Bắc Giang quê tôi chẳng hạn, vải chỉ chín trong vòng 1 tháng, chính vì vậy nhiều lúc vào chính vụ xảy ra tình trạng bán tống bán tháo, trong khi nếu chế biến sau thu hoạch thì có thể để được cả năm. Theo ông, chúng tôi cần làm gì để phát triển sản phẩm nông sản nội địa bằng các công nghệ mới và tiên tiến?


Viện trưởng Phạm Anh Tuấn: Tôi đồng ý với đánh giá “…là điểm yếu nhất của ngành chế biến nông sản Việt Nam” so với khu vực và thế giới. Tuy vậy, nguyên nhân của những yếu kém này so với thế giới xuất phát từ chúng ta còn thiếu sự đầu tư có tính hệ thống và đồng bộ theo chuỗi từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Khó có công nghệ nào đa năng vừa có chi phí thấp để phù hợp với quy mô sản xuất nhỏ lẻ, trong khi thiếu cơ sở hạ tầng, nhà sơ chế bảo quản, phương tiện vận chuyển, tổng kho tồn trữ và phân phối…

Về ví dụ cụ thể vải thiều Bắc Giang, hiện dây chuyền thiết bị công nghệ sơ chế, bao gói, bảo quản quy mô 1 tấn/giờ tại huyện Lục Ngạn là sản phẩm của Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch thuộc dự án chương trình KHCN xây dựng nông thôn mới đã hoàn thiện và đi vào hoạt động. Về trình độ công nghệ bảo quản quả vải thiều từ 30 - 35 ngày tương đương với công nghệ tiên tiến trên thế giới, trong khi thời vụ thu hoạch ngắn, quy mô đầu tư có hạn, do vậy hiệu quả khai thác là không cao.

Theo tôi, để đưa được công nghệ mới và tiên tiến là “điều kiện cần” tuy vậy còn thiếu “điều kiện đủ” là tính quy hoạch đồng bộ theo chuỗi sản xuất. Khi đáp ứng được điều cần và đủ chúng ta mới có thể đánh giá trình độ hiện tại so với thế giới.
Lê Quang Trung (41 tuổi), Hà Tĩnh: Theo ông, việc sửa đổi Luật có phù hợp với tình hình cũng như xu thế cải cách, đổi mới trong phát triển kinh tế, KHCN hiện nay?

Tổng Giám đốc Trần Mạnh Báo: Theo tôi, việc sửa đổi Luật rất phù hợp với tình hình cũng như xu thế cải cách, đổi mới trong phát triển kinh tế, KHCN hiện nay. Vì Luật CGCN năm 2006 đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện; có nội dung chưa theo kịp được với xu thế cải cách, đổi mới trong phát triển kinh tế, KHCN… đặc biệt khi chúng ta đang trong thời đại công nghệ 4.0. Vì thế, việc xây dựng Luật CGCN (sửa đổi) là rất cần thiết. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng, việc sửa đổi Luật chỉ đáp ứng được phần nào việc ứng dụng, chuyển giao KHCN ứng dụng vào cuộc sống.

Hồ Đức Dũng (41 tuổi), Vũng Tàu: Dự thảo Luật CGCN đã bảo đảm thống nhất pháp luật với các luật hiện hành như Luật KH-CN, Luật đầu tư công, Luật Bảo vệ môi trường... hay chưa, thưa Phó chủ nhiệm?


Phó chủ nhiệm Trương Minh Hoàng: Dự thảo Luật cũng đã hướng đến sự thống nhất với các Luật này. Được thể hiện bằng cách quy định rõ các cơ chế khuyến khích chuyển giao. Đồng thời, khi Luật CGCN được ban hành, cũng có nhiều điểm mới mà cần sửa đổi các quy định của các Luật KH-CN, Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư, Luật Bảo vệ môi trường… cho phù hợp, thống nhất.

Phạm Tuấn Ngọc (42 tuổi), Bình Dương: Xung quanh thương mại hóa kết quả nghiên cứu, hiện nay muốn giải phóng và thúc đẩy mạnh hoạt động sáng tạo trong cả nền kinh tế, việc giao quyền kết quả nghiên cứu là hết sức quan trọng, thưa ông?

Vụ trưởng Đỗ Hoài Nam: Việc xem xét, giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đã được đặt ra tại Luật KHCN năm 2013. Tuy nhiên, để tiến thêm một bước, dự thảo Luật CGCN (sửa đổi) đã quy định mạnh hơn, đó là “Tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ KHCN bằng ngân sách nhà nước được Nhà nước giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng kết quả nhiệm vụ KHCN để thực hiện thương mại hóa; trường hợp không thực hiện thương mại hóa thì nhà nước giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng kết quả đó cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác của Việt Nam có nhu cầu”. Điều này cho thấy nhà nước luôn quan tâm, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trong việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Phạm Tùng (42 tuổi), Đồng Nai: Tôi thấy thi thoảng báo chí lại nói nhiều về vấn đề rác thải công nghệ, tôi rất quan tâm. Hiện nay, một số quốc gia đang tiến hành thải loại công nghệ, thiết bị cũ. Vậy Việt Nam cần làm gì để ngăn chặn hậu quả những loại công nghệ, thiết bị cũ khi nhập khẩu vào nước ta?

Viện trưởng Phạm Anh Tuấn: Tôi đồng tình với những lo ngại của bạn, nhưng thực tế xuất phát từ cái khó bó cái khôn, trong khi còn nghèo các doanh nghiệp khởi nghiệp bắt đầu từ nguồn vốn eo hẹp phải lựa chọn phương án đầu tư thấp để giảm chi phí và rủi ro… tạo nguồn cầu ắt dẫn đến nguồn cung có công nghệ lạc hậu. Tuy vậy, theo tôi để đáp ứng nhu cầu phát triển và hạn chế tối đa nhập khẩu công nghệ thiết bị quá lạc hậu, về mặt chủ động trong nước cần ưu tiên phát triển sản xuất trong nước, mặt khác tăng cường công tác giám định, khảo nghiệm công nghệ thiết bị cũ và lộ trình cắt giảm nhập khẩu phù hợp với sự phát triển của mặt hàng nội địa.:

Đinh Mạnh Dũng (41 tuổi), Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh: Thưa ông, các chính sách hỗ trợ khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng đổi mới công nghệ trong dự thảo Luật được quy định như thế nào? Theo ông, quy định như vậy đã đủ sức nặng để hấp dẫn các doanh nghiệp đổi mới công nghệ hay chưa?

Phó chủ nhiệm Trương Minh Hoàng: Như tôi đã trao đổi ở trên, dự thảo Luật CGCN đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng đổi mới công nghệ. Qua khảo sát thực tế, doanh nghiệp nào cũng hiểu được việc đẩy mạnh nghiên cứu, CGCN để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ là điều vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, không nhiều doanh nghiệp tiến hành CGCN bởi nhiều nguyên nhân. Ở đây, các doanh nghiệp cần nhận thấy nhu cầu đổi mới, CGCN là nhu cầu tự thân, cấp thiết. Các cơ chế khuyến khích về sử dụng Quỹ Phát triển KH-CN để CGCN... cũng đã được quy định cụ thể. Tôi nghĩ, cùng với các quy định này, Chính phủ cần cụ thể hóa các cơ chế, chính sách về tín dụng, sử dụng quỹ, thuế suất... khuyến khích doanh nghiệp CGCN khi Luật CGCN có hiệu lực.

Nguyễn Lan Anh (38 tuổi), Định Công, Hà Nội: Thưa ông, công tác thẩm định công nghệ trong các dự án đầu tư; công tác giám sát kiểm tra đối với hoạt động CGCN để bảo đảm môi trường, hạn chế tình trạng đưa các công nghệ lạc hậu thời gian qua được triển khai như thế nào, còn khó khăn hạn chế gì?


Vụ trưởng Đỗ Hoài Nam: Thời gian qua, việc thẩm định công nghệ trong dự án đầu tư được thực hiện theo Luật Đầu tư và Luật Đầu tư công. Theo Luật Đầu tư, chỉ có dự án sử dụng CNCG mới phải thẩm định công nghệ và nội dung công nghệ nêu trong hồ sơ dự án đầu tư thường rất sơ lược, phần giải trình về công nghệ mới chỉ nêu sơ bộ về phương án công nghệ lựa chọn. Đối với công tác kiểm tra, giám sát, cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư là đầu mối để tổ chức kiểm tra, giám sát dự án đầu tư. Tuy nhiên, thời gian qua việc kiểm tra, giám sát chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục. Một phần cũng để bảo đảm yêu cầu không để các doanh nghiệp hàng năm phải tiếp quá nhiều đoàn kiểm tra của các ngành, lĩnh vực khác nhau. Điều này dẫn tới việc chỉ khi có sự cố xảy ra mới thành lập đoàn kiểm tra để xem xét, xử lý.

Phan Trung Tuấn (43 tuổi), Nam Định: Ông đánh giá như thế vào về vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động CGCN; đặc biệt đối với ngành nông nghiệp, thưa ông?


Tổng Giám đốc Trần Mạnh Báo: Vai trò của nhà nước không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp mà tất cả các lĩnh vực thì vai trò quản lý nhà nước đều quan trọng. Trong lĩnh vực CGCN thì vai trò quản lý nhà nước là căn cứ pháp lý để thực hiện quá trình chuyển giao, tiếp nhận, hợp tác, tiếp thu và ứng dụng KHCN giữa nước ta với các nước, các cơ quan nghiên cứu và bà con nông dân càng phải chặt chẽ, cụ thể vì lĩnh vực nông nghiệp chiếm phần lớn trong thị phần kinh tế. Lĩnh vực nông nghiệp là lĩnh vực phức tạp vì chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, điều kiện thổ nhưỡng thời tiết, vì vậy vai trò nhà nước phải tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, bà con nông dân, các nhà khoa học phát triển; tiếp thu các thành tựu, kiến nghị của các nhà khoa học, nông dân.

Phạm Anh Tú (41 tuổi), Đồng Nai: Dự án luật sửa đổi lần này có nhiều quy định mới tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động chuyển giao công nghệ, phát triển thị trường công nghệ tại Việt Nam, để làm chủ công nghệ hiện đại, vấn đề nhân lực trong lĩnh vực công nghệ là yếu tố quan trọng. Theo ông cần có chính sách gì để thu hút nhân lực trong lĩnh vực này?

Phó chủ nhiệm Trương Minh Hoàng: Hiện nay, lao động Việt Nam nói chung, trong đó có nhân lực KHCN Việt Nam, các bạn trẻ đã có nhiều công trình, dự án, sáng chế, phát minh đã được ứng dụng vào thực tế. Trong lĩnh vực y học, rất nhiều công nghệ hiện đại được nghiên cứu và chuyển giao, nhận chuyển giao, giúp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Rồi trong lĩnh vực CNTT, xây dựng, công nghiệp chúng ta cũng đã có đội ngũ nhân lực đủ sức làm chủ các công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, nhân lực KHCN trong thực tế có lúc còn chưa đáp ứng yêu cầu. Chính sách đào tạo cần phải tiếp tục đổi mới, tăng cường liên kết các trường với các doanh nghiệp trong đào tạo; tăng cường liên kết quốc tế trong đào tạo nhân lực công nghệ cao; đồng thời cải cách tiền lương để thu hút nhân lực chất lượng cao. Tôi cũng rất mong các tập đoàn, tổng công ty có cơ chế đãi ngộ đối với nhân lực KHCN. Đồng thời, đẩy mạnh hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động khởi nghiệp...

Lương Đức Hùng (40 tuổi), Bắc Ninh: Có ý kiến cho rằng, các biện pháp khuyến khích, thúc đẩy CGCN; phát triển thị trường KHCN; cũng như hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ còn chưa nhiều. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Vụ trưởng Đỗ Hoài Nam: Mặc dù Luật CGCN 2006 cũng đã có quy định biện pháp khuyến khích, thúc đẩy CGCN, phát triển thị trường KHCN. Nhưng thực tế triển khai Luật vẫn còn có một số biện pháp được quy định trong luật chưa được thực hiện. Ví dụ như trong Luật CGCN 2006 có quy định chính sách ưu đãi thuế cho một số đối tượng thực hiện hoạt động CGCN nhưng trong Luật về thuế lại không quy định, do vậy, các tổ chức, cá nhân được hưởng ưu đãi thuế theo quy định của Luật CGCN trên thực tế lại không được hưởng chính sách ưu đãi này. Đồng thời, quy định về phát triển thị trường KHCN còn mang tính chung chung, chưa có biện pháp cụ thể. Do vậy, cần phải sửa đổi, bổ sung để thực sự khuyến khích, thúc đẩy CGCN và phát triển thị trường KHCN.

Vũ Lâm Hà (40 tuổi), Đồng Tháp: Ông có thể đánh giá tình hình CGCN trong lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam thời gian qua?


Viện trưởng Phạm Anh Tuấn: Nhìn chung, ngành Nông nghiệp nước ta đã có bước tăng trưởng với tốc độ khá cao, thu hút trên 50% lực lượng lao động, tạo ra khoảng 20% GDP và khoảng 19% tổng kim ngạch xuất khẩu. Cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả; bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia; nhiều mặt hàng xuất khẩu chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới. Hiện, Việt Nam thuộc vào nhóm các nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về tôm, cá tra, cà phê, hạt điều, hạt tiêu và gạo, sắn; về cao su đứng thứ tư, thủy - hải sản nói chung đứng thứ năm và chè đứng thứ bảy… Để đạt được kết quả trên, đã có sự đóng góp tích cực của KHCN, cụ thể nhiều giống mới, quy trình công nghệ, tiến bộ kỹ thuật mới, góp phần giảm chi phí đầu tư, tăng lợi nhuận và mang lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông nghiệp:

Hiện cả nước đã có trên 90% diện tích lúa, 80% diện tích ngô, 60% diện tích mía, 100% diện tích điều trồng mới được sử dụng giống mới…

Về lĩnh vực cơ giới hóa nông nghiệp cả nước đã có mức tăng trưởng khá cao. Nguồn động lực sử dụng trong nông nghiệp đạt 46 triệu mã lực (HP), tăng 1,45 lần so với năm 2006. Trang bị động lực bình quân trong sản xuất nông nghiệp cả nước đạt 1,6 HP/ha canh tác, với đất lúa đạt 2,2 HP/ha. Mức độ cơ giới hóa các khâu trong sản xuất một số loại cây trồng chính đạt cao như: Làm đất đạt 90% (tăng gần gấp đối so với năm 2000); thu hoạch lúa tăng từ 5% năm 2000 lên 42% năm 2014, cao nhất là vùng ĐBSCL đạt 76%; gieo cấy lúa đạt 30%; phun thuốc bảo vệ thực vật đạt 60%; sấy lúa chủ động ở ĐBSCL đạt 46%. Bước đầu đã giảm được tổn thất sau thu hoạch, chỉ riêng việc ứng dụng máy gặt đập liên hợp, khâu tổn thất ở công đoạn thu hoạch đã giảm từ 5% (thu hoạch nhiều giai đoạn) xuống dưới 2% (thu hoạch liên hợp).

Chất lượng nông sản được cải thiện đáng kể nhờ ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong chế biến và bảo quản tiên tiến là kết quả từ các nhiệm vụ KHCN: Các hệ thống thiết bị sấy thóc 2 giai đoạn (tầng sôi kết hợp sấy tháp) năng suất từ 100 - 500 tấn/ngày, các dây chuyền xay xát lúa gạo tiên tiến và các kho bảo quản quy mô lớn (tại ĐBSCL); Các dây chuyền thiết bị chế biến hạt giống được ứng rộng rãi tại các vùng sản xuất tập trung trên cả nước; Các dây chuyền thiết bị sơ chế bao gói bảo quản quả vải thiều (Lục Ngạn), nho táo (Ninh Thuận); Dây chuyền thiết bị đồng bộ chế biến nhựa thông, quy mô 5000 - 10.000 tấn sản phẩm/năm (Quảng Ninh, Quảng Trị); Các dây chuyền thiết bị chế biến thức ăn chăn nuôi, năng suất 2 - 10 tấn/giờ được ứng dụng rộng rãi trên địa bàn cả nước…

Phùng Đức Chính (42 tuổi), Quảng Nam: Tôi là cử tri, là doanh nghiệp làm trong lĩnh vực nông nghiệp, được biết, Dự thảo Luật Chuyển giao công nghệ đã dành 1 điều quy định phương thức, hình thức, loại hình chuyển giao công nghệ đặc thù trong nông nghiệp. Theo ông, việc này sẽ khuyến khích, thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp như thế nào?

Phó chủ nhiệm Trương Minh Hoàng: Điều 55 dự thảo Luật quy định CGCN trong nông nghiệp. Khi Luật này ra đời, sẽ tiếp tục khuyến khích chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về giống, sản phẩm, quy trình sản xuất, giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý nông nghiệp và giao Chính phủ quy định chi tiết. Hy vọng rằng, khi luật ra đời, sẽ khuyến khích chuyển giao các loại công nghệ chế biến, bảo quản, nâng cao giá trị các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là các sản phẩm chủ lực của chúng ta. Từ đó, có thể đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp. Và chúng ta sẽ không còn phải chung tay “giải cứu” thịt lợn, dưa hấu, hành tía... như thời gian vừa qua.

Đỗ Quang Vọng (43 tuổi), Phú Yên: Ý kiến của ông như thế nào đối với quan điểm cho rằng thị trường công nghệ hiện nay vẫn chưa đủ sức thu hút, thúc đẩy nguồn cung và nguồn cầu công nghệ, đặc biệt là việc hình thành và phát triển các tổ chức trung gian trong hoạt động CGCN, cũng như một số hoạt động dịch vụ CGCN như dịch vụ đánh giá, thẩm định và giám định công nghệ?


Vụ trưởng Đỗ Hoài Nam: Thị trường nói chung và thị trường KHCN nói riêng muốn phát triển phải có đủ các yếu tố cấu thành và có biện pháp để phát triển các bộ phận cấu thành nên thị trường. Để phát triển thị trường KHCN, dự thảo Luật CGCN (sửa đổi) đã bổ sung một số biện pháp nhằm phát triển nguồn cung, thúc đẩy nguồn cầu. Ví dụ như Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích hoạt động nhập khẩu, giải mã, làm chủ công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch phục vụ mục tiêu chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT - XH của quốc gia, ngành, vùng, địa phương; mua, nghiên cứu hoàn thiện sáng chế, sáng kiến đã được áp dụng hiệu quả ở quy mô nhỏ để chuyển giao cho doanh nghiệp áp dụng, phổ biến cho công chúng... Còn đối với tổ chức trung gian, nhà nước đặc biệt quan tâm và hỗ trợ các tổ chức này trong xây dựng hạ tầng kỹ thuật và hỗ trợ hoạt động của sàn giao dịch công nghệ quốc gia, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp công nghệ; hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho tổ chức trung gian; hỗ trợ, nâng cao năng lực khai thác thông tin về công nghệ.

Phạm Hải Yến (45 tuổi), Lâm Đồng: Được biết, trong Luật CGCN (sửa đổi) lần này có dành riêng một điều nói về CGCN trong nông nghiệp. Theo ông, điều này có tác động thế nào đến việc nhân rộng các công nghệ mới, ưu việt giúp phát triển ngành Nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch?

Viện trưởng Phạm Anh Tuấn: Điều 35. Công nghệ khuyến khích chuyển giao cho vùng nông thôn, miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn:

1. Công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển nguồn gen; lai tạo, cải tạo, nâng cao giá trị kinh tế của giống cây trồng, giống vật nuôi.

2. Công nghệ nuôi trồng, bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản.

3. Công nghệ phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

4. Công nghệ phòng, chống dịch bệnh cho giống cây trồng, giống vật nuôi.

5. Công nghệ sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo.

6. Công nghệ cung cấp nước sạch, bảo vệ môi trường.

7. Công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản phẩm truyền thống của làng nghề.

Theo tôi đây là hành lang pháp lý tạo điều kiện thuận lợi để các nhà khoa học thuộc lĩnh vực nông nghiệp nói chung và Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch nói riêng đưa được các tiến bộ kỹ thuật vào thực tế sản xuất, góp phần thực hiện đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị và phát triển bền vững.

Đỗ Minh Tâm (41 tuổi), Khánh Hòa: Ông có kiến nghị gì đối với các cơ quản lý nhà nước trong việc thúc đẩy hoạt động chuyển giao, thương mại hóa, ứng dụng và đổi mới trong ngành nông nghiệp hiện nay?


Tổng Giám đốc Trần Mạnh Báo: Điều chúng tôi mong muốn, thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước hãy đưa được những chính sách, những văn bản pháp luật đã được nhà nước ban hành đến với thực tiễn, được thực thi hiệu quả nhằm phát triển kinh tế- xã hội.

Thứ hai, cần đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi để KHCN đến được với cơ quan, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, người dân khi tiếp nhận KHCN.

Thứ ba, Nhà nước phải tạo điều kiện hỗ trợ để thực hiện xã hội hóa trong việc nghiên cứu và CGCN, tạo điều kiện để các nhà khoa học, các doanh nghiệp, người dân tự nghiên cứu, chuyển giao các tiến bộ đó vào cuộc sống một cách thuận lợi nhất.

Thứ tư, quản lý nhà nước phải là trọng tài, thúc đẩy phát triển việc thực hiện và bảo vệ kết quả nghiên cứu của các tác giả. Xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm bản quyền, không tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, làm triệt tiêu động lực nghiên cứu trong xã hội. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, xử lý nghiêm túc các vi phạm bản quyền.

Thứ năm, phải nhanh chóng hoàn thiện hướng dẫn thực hiện luật để luật đi vào cuộc sống dễ dàng, tổ chức các buổi tập huấn, hướng dẫn đối với người thực hiện để có sự thống nhất thực hiện.

Thứ sáu, nên ghi nhận, khuyến khích, động viên các nhà khoa học, các tác giả nghiên cứu để họ tự tin, tự hào về các nghiên cứu của họ, tiếp tục nghiên cứu các công trình khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp.

Nguyễn Văn Hùng (46 tuổi), Hà Nam: Ông có thể cho biết Luật CGCN sửa đổi đã có những thay đổi chính gì và tập trung vào những vấn đề nào? Các ĐBQH kỳ vọng gì từ việc sửa đổi lần này, thưa ông?

Phó chủ nhiệm Trương Minh Hoàng: Dự thảo Luật tập trung quy định cơ chế hỗ trợ, khuyến khích phát triển tổ chức trung gian, nâng cao năng lực nguồn cung và cầu để phát triển thị trường KHCN. Luật cũng quy định việc đưa các kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ, đối tượng sở hữu trí tuệ có thể xác định được giá trị làm tài sản bảo đảm trong vay vốn đầu tư cho các dự án KHCN, khởi nghiệp công nghệ, phát triển sản xuất kinh doanh.

Một điểm mới nữa, Dự thảo Luật cũng quy định cơ chế phối hợp giữa Bộ KHCN và các cơ quan liên quan trong việc chống chuyển giá trong CGCN. Đồng thời, Dự thảo Luật cũng tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác thẩm định công nghệ các dự án đầu tư nhằm hạn chế, ngăn chặn công nghệ lạc hậu, công nghệ ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, môi trường và phát triển bền vững quốc gia. Ngoài ra, Dự thảo Luật cũng mở rộng nội dung chi của Quỹ phát triển KHCN của doanh nghiệp theo hướng có thể sử dụng Quỹ này để đầu tư cho ươm tạo công nghệ, thương mại hóa công nghệ và phát triển công nghệ của bản thân doanh nghiệp.

Lê Anh Nhật (43 tuổi), Vĩnh Phúc: Theo ông, cần có những biện pháp cụ thể gì để khuyến khích thúc đẩy mạnh mẽ việc chuyển giao và ứng dụng công nghệ?

Vụ trưởng Đỗ Hoài Nam: Hiện nay, trong dự thảo Luật CGCN (sửa đổi) có quy định cơ chế hỗ trợ của nhà nước đối với doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ, cụ thể là:

1. Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp có dự án thực hiện tại địa bàn KT - XH khó khăn, đặc biệt khó khăn và lĩnh vực ưu đãi đầu tư có hoạt động CGCN thực hiện cùng với tổ chức KHCN.

2. Doanh nghiệp được sử dụng quỹ phát triển KHCN của doanh nghiệp để đầu tư, đối ứng vốn, nhận vốn đối ứng đầu tư cho đổi mới công nghệ, ươm tạo công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của mình.

3. Được dùng quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền khác phát sinh từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đối tượng sở hữu trí tuệ có thể xác định được giá trị là quyền tài sản và làm tài sản bảo đảm trong các giao dịch vay vốn đầu tư.

4. Doanh nghiệp đầu tư cho cơ sở vật chất - kỹ thuật hoạt động giải mã công nghệ, tổ chức, cá nhân thực hiện việc giải mã công nghệ được hỗ trợ vốn, bảo lãnh vay vốn, hỗ trợ lãi suất vay vốn từ Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, tổ chức tín dụng. Tôi cho rằng các quy định trên nếu được thực thi sẽ góp phần tích cực vào việc thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp.

Mai Trần Dũng (41 tuổi), Thái Nguyên: Luật CGCN (sửa đổi) sẽ tạo điều kiện khuyến khích CGCN nói chung và trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng, nhất là công nghệ cao như thế nào, thưa ông?

Viện trưởng Phạm Anh Tuấn: Tại Điều 5 đã sửa đổi, bổ sung:

Ưu tiên phát triển công nghệ cao, công nghệ tiên tiến và công nghệ thích hợp với xu hướng phát triển các ngành kinh tế - kỹ thuật và điều kiện của nền kinh tế Việt Nam, trong đó bao gồm cả công nghiệp hỗ trợ; có chính sách hỗ trợ đầu tư, khuyến khích hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, đổi mới công nghệ nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của các doanh nghiệp trên cơ sở phát triển nguồn nhân lực công nghệ đồng bộ với đầu tư đổi mới công nghệ.

Có chính sách ưu đãi đối với công nghệ tiên tiến, công nghệ mới lần đầu tiên tạo ra tại Việt Nam hoặc lần đầu nhập khẩu vào Việt Nam để chuyển giao cho tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.

Đỗ Quang Mạnh (43 tuổi), Hải Phòng: Nhiều ý kiến cho rằng, quy định về các chính sách của Nhà nước trong dự án Luật còn mang tính chung chung, chưa có chính sách đột phá trong việc ưu tiên chuyển giao các công nghệ mới, công nghệ sạch, công nghệ tiên tiến, phục vụ cho phát triển sản xuất sản phẩm trọng điểm, đặc biệt là trong công nghệ phục vụ quốc phòng, an ninh. Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

Vụ trưởng Đỗ Hoài Nam: Dự thảo Luật CGCN (sửa đổi) đã dành một điều để quy định về công nghệ khuyến khích chuyển giao, trong đó có công nghệ cao, công nghệ tiên tiến phục vụ cho phát triển sản phẩm trọng điểm quốc gia và công nghệ có tính chất lưỡng dụng vừa phục vụ quốc phòng an ninh, vừa phục vụ dân dụng. Đồng thời, đi kèm với quy định này là quy định về chính sách ưu đãi thuế để thúc đẩy CGCN cao, công nghệ tiên tiến, đặc biệt là CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam.

Cao Tuyết Lê, Đà Nẵng: Luật CGCN (sửa đổi) được ban hành sẽ tác động như thế nào đến hoạt động CGCN nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung, thưa ông?

Viện trưởng Phạm Anh Tuấn: Đã cải thiện và tạo được hành lang pháp lý thông thoáng hơn cho mọi đối tượng là tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước trong hoạt động CGCN. Ưu tiên phát triển khu vực nông thôn miền núi, khu vực có điều kiện KT-XH khó khăn và đặc biệt khó khăn, góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm thiểu mức chênh lệch về mức thu nhập và chất lượng cuộc sống giữa nông thôn và thành thị. Phát huy được tối đa nguồn lực, đặc biệt là KHCN cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Vi Trọng Đạt (43 tuổi), Lạng Sơn: Tôi cũng là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực vực nông nghiệp và rất muốn nhập khẩu công nghệ, giống của nước ngoài nhưng còn thiếu kinh nghiệm, ông có thể chia sẻ kinh nghiệm của công ty ông không?

Tổng Giám đốc Trần Mạnh Báo: Kinh nghiệm của ThaiBinhSeed chúng tôi muốn tiếp thu được CGCN nước ngoài thì doanh nghiệp phải: Thứ nhất, nắm rõ Luật KHCN của nước mà doanh nghiệp định tiếp thu. Thứ hai, doanh nghiệp phải hiểu công nghệ tiếp thu có phù hợp với ngành hàng, cơ sở vật chất và thị trường định phát triển. Thứ ba, doanh nghiệp phải có nguồn nhân lực đáp ứng được đủ khả năng tiếp thu công nghệ với trình độ ngoại ngữ và tin học phù hợp. Thứ tư, doanh nghiệp phải tiếp thu một cách chính thống, không tiếp thu công nghệ không chính thống, như vậy sẽ gặp rủi ro lớn. Thứ năm, doanh nghiệp phải chọn đối tác tin cậy, bản thân doanh nghiệp phải trung thực, tôn trọng bản quyền công nghệ, tạo lòng tin trong hợp tác.

Hoàng Tuyết Mai (40 tuổi), Hà Nội: Từ công tác xây dựng luật, theo các chuyên gia, có thể nói, Luật CGCN lần này đã tập trung được ý kiến của rất nhiều bộ, ban, ngành, địa phương. Ủy ban KH, CN và MT của QH đã có quá trình thẩm tra Luật rất kỹ lưỡng. Xin ông cho biết rõ hơn về điều này?


Phó chủ nhiệm Trương Minh Hoàng: Trong quá trình xây dựng Luật này, các cơ quan, chuyên gia tham vấn rất kỹ, từ quá trình tổng kết 10 năm thực hiện Luật; tham gia đánh giá tác động của dự thảo Luật khi ban hành. Đồng thời, các bộ, ngành đều có các báo cáo về tình hình CGCN của ngành mình. Với vai trò là cơ quan thẩm tra, Ủy ban KH, CN và MT đã tổ chức nhiều cuộc khảo sát thực tế các doanh nghiệp về việc thực hiện CGCN, những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc và các đề xuất về CGCN. Tôi cũng kỳ vọng được rằng, Luật khi ban hành sẽ khắc phục được những vướng mắc, bất cập của luật hiện hành. Đồng thời làm được hai việc, là kiểm soát được chất lượng CNCG vào Việt Nam và khuyến khích CGCN tiên tiến, hiện đại phục vụ quá trình phát triển.

Đặng Trần Dũng (41 tuổi), Phú Thọ: Cùng với việc CGCN từ đối tác nước ngoài thì việc thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ trong nước, thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam tự nghiên cứu và CGCN cũng rất quan trọng. Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

Vụ trưởng Đỗ Hoài Nam: Đúng là chúng ta cần phải có những chính sách thiết thực để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tự nghiên cứu công nghệ hoặc đặt hàng các viện nghiên cứu để có các kết quả đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Trong dự thảo Luật cũng đã có một điều quy định về việc phát triển công nghệ tạo ra và hoàn thiện các sản phẩm quốc gia, trọng điểm, chủ lực, trong đó nêu rõ:

Khuyến khích phát triển các công nghệ tạo ra và hoàn thiện sản phẩm quốc gia, trọng điểm, chủ lực có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước.

Nhà nước có chính sách và biện pháp đẩy mạnh việc hoàn thiện thiết kế, chế tạo máy móc, thiết bị do Việt Nam tạo ra đủ sức cạnh tranh trên thị trường.

Doanh nghiệp, tổ chức chuyển giao, ứng dụng và hoàn thiện công nghệ tạo ra sản phẩm quốc gia, trọng điểm, chủ lực được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật.

Trương Vĩnh Khang (45 tuổi), Gia Lâm, Hà Nội: Mong muốn của ông về hiệu quả mang lại từ Luật CGCN (sửa đổi) lần này là gì? Ông có kiến nghị gì về giải pháp thúc đẩy hoạt động chuyển giao, thương mại hóa, ứng dụng và đổi mới công nghệ trong thời gian tới?

Viện trưởng Phạm Anh Tuấn: Tôi mong muốn và hy vọng sau khi Luật CGCN (sửa đổi) được ban hành sẽ tạo được động lực thúc đẩy các tổ chức, cá nhân trong hoạt động nghiên cứu và CGCN có hiệu quả hơn, đặc biệt là các Viện nghiên cứu ứng dụng như Viện chúng tôi đang trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế tự chủ theo Nghị định 115/CP.

Để Luật CGCN (sửa đổi) sớm đi vào cuộc sống, đóng góp thiết thực cho sự phát triển KT - XH của đất nước. Theo tôi cần có chính sách hỗ trợ phát triển cao hơn đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp và đặc biệt các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Mặt khác các chương trình KHCN trong mỗi giai đoạn cần đưa ra cơ chế đặc thù cho những nhiệm vụ có tính đột phá về đổi mới công nghệ có tác động mạnh mẻ đến hiệu quả và chất lượng sản phẩm so với trình độ tiên tiến trên thế giới để khuyến khích các nhà khoa học đầu tư nghiên cứu và CGCN.

Nguyễn Quốc Việt (40 tuổi), Đồng Nai: Luật CGCN (sửa đổi) được ban hành sẽ tác động như thế nào đến hoạt động CGCN nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung, thưa ông?

Phó chủ nhiệm Trương Minh Hoàng: Như tôi đã nói, hy vọng khi Luật này được ban hành sẽ tăng cường trách nhiệm của cơ quan thẩm tra, xét duyệt công nghệ chuyển giao, từ đó hạn chế được các công nghệ lạc hậu, không để tuồn vào Việt Nam. Đồng thời, thúc đẩy hoạt động CGCN giữa các doanh nghiệp, qua đó tạo động lực cho tăng trưởng bền vững, hạn chế ảnh hưởng của môi trường vào quá trình phát triển. Đồng thời, khi tiếp nhận được các loại công nghệ tiên tiến sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, đặc biệt là các sản phẩm nông nghiệp, nâng cao đời sống người dân. Từ đó, tạo động lực đổi mới, sáng tạo trong nền kinh tế, góp phần nâng cao tiềm lực quốc gia, bao gồm tiềm lực quốc phòng, an ninh.

Trần Văn Triều (40 tuổi), Cần Thơ: Theo ông, nếu Luật này được ban hành và triển khai vào trong thực tiễn sẽ thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển như thế nào?

Viện trưởng Phạm Anh Tuấn: Tôi tin rằng ngành Nông nghiệp Việt Nam sẽ có bước tăng trưởng vượt bậc trong thời gian tới, đặc biệt xu hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao trong trồng trọt, nuôi trồng và chế biến bảo quản sau thu hoạch.

Các doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ gia tăng, đặc biệt là DNVVN; Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản sẽ tăng mạnh; Thị trường kKHCN được mở rộng và phát triển mạnh mẽ, tạo cơ hội tìm kiếm công nghệ cho các doanh nghiệp, mặt khác tạo điều kiện cho các nhà khoa học đưa được tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp

Trịnh Thái Anh (43 tuổi), Ninh Thuận: Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu, ứng dụng và CGCN trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch?

Viện trưởng Phạm Anh Tuấn: Với đối tượng người nông dân: cần lựa chọn những công nghệ và thiết bị thích hợp, dễ đầu tư với chi phí đầu tư thấp; Việc đổi mới công nghệ cần xây dựng mô hình trình diễn, đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng sử dụng thuần thục nhằm thay đổi tập quán và công nghệ truyền thống.

Đối với doanh nghiệp: Cần tư vấn đầu tư công nghệ tiên tiến và phù hợp với quy mô sản xuất và chuỗi giá trị tùy thuộc vào ngành hàng.

Nghiêm Vũ Hùng (48 tuổi), Hà Nội: Tôi là người làm trong Hiệp hội khoa học kỹ thuật, xin hỏi ông, vai trò của các tổ chức KHCN và nhà khoa học được thể hiện như thế nào trong dự thảo Luật CGCN (sửa đổi)?

Phó chủ nhiệm Trương Minh Hoàng: Luật cũng đã đề cập đến vai trò của các tổ chức KHCN và nhà khoa học. Tuy nhiên, trên hội trường cũng đã có ý kiến đề nghị cần phải quy định cụ thể hơn. Làm sao để thúc đẩy chuyển giao các kết quả nghiên cứu, sáng kiến, giải pháp từ các viện, trường, các nhà khoa học cho doanh nghiệp. Mặt khác, hy vọng, các doanh nghiệp dành phần thỏa đáng cho Quỹ phát triển KHCN để mua các kết quả nghiên cứu, đặt hàng các tổ chức KHCN, các nhà khoa học.

Tô Thị Hảo (40 tuổi), Quảng Trị: Thưa ông, Luật CGCN sửa đổi lần này quy định như thế nào để làm rõ trách nhiệm trong quản lý hoạt động CGCN, nhất là đối với các dự án đầu tư?

Vụ trưởng Đỗ Hoài Nam: Trong dự thảo Luật có quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan trong công tác thẩm định công nghệ dự án đầu tư cũng như công tác kiểm tra, giám sát công nghệ dự án đầu tư khi triển khai thực hiện. Đồng thời, trong phần trách nhiệm của Chính phủ, của Bộ Khoa học và Công nghệ, các Bộ, ngành, UBND đã bổ sung những quy định cụ thể đối với quản lý hoạt động CGCN.
 
Trần Xuân Bằng (41 tuổi), Bắc Ninh: Thưa ông, khi dự thảo Luật CGCN (sửa đổi) được thông qua thì những quy định về nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng có còn hiệu lực không?

Vụ trưởng Đỗ Hoài Nam: Luật CGCN (sửa đổi) chỉ điều chỉnh đối với máy móc, thiết bị đi kèm CGCN; còn đối với máy móc, thiết bị không đi kèm công nghệ được hiểu là hàng hóa vẫn chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại và các văn bản dưới Luật hiện hành.

Võ Thị Loan (46 tuổi), Thanh Hóa: Khi Luật CGCN (sửa đổi) được thông qua, các doanh nghiệp sẽ được hưởng những quyền lợi gì, thưa ông?

Vụ trưởng Đỗ Hoài Nam: Tùy từng hoạt động có liên quan, doanh nghiệp sẽ được Nhà nước hỗ trợ. Ví dụ: Doanh nghiệp tham gia hoạt động giải mã, đầu tư hạ tầng cho hoạt động giải mã được hỗ trợ vốn, hỗ trợ lãi suất khi vay vốn. Doanh nghiệp có dự án thuộc địa bàn, lĩnh vực ưu đãi đầu tư thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ với tổ chức KHCN được ưu đãi thuế. Được sử dụng quỹ phát triển KHCN của doanh nghiệp để đầu tư, đối ứng vốn, nhận vốn đối ứng đầu tư cho đổi mới công nghệ, ươm tạo công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của doanh nghiệp.

Ngô Duy Khoa (43 tuổi), Bình Thuận: Thưa ông, cơ chế giám sát việc CGCN sẽ như thế nào và sẽ liên quan đến trách nhiệm của những cơ quan nào?

Vụ trưởng Đỗ Hoài Nam: Dự thảo Luật quy định trách nhiệm kiểm tra, giám sát công nghệ, CGCN như sau:

Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, trong đó có cơ quan quản lý nhà nước về KHCN để kiểm tra, giám sát công nghệ trong dự án đầu tư cùng với việc kiểm tra, giám sát đầu tư theo quy định của pháp luật.

Cơ quan quản lý nhà nước về KHCN có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan kiểm tra hoạt động CGCN.

Hà Đỗ Hạnh (41 tuổi), Tây Ninh: Luật CGCN 2017 được ban hành sẽ tác động như thế nào đến hoạt động CGCN nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung, thưa ông?

Vụ trưởng Đỗ Hoài Nam: Luật CGCN (sửa đổi) được ban hành sẽ tạo cơ chế hỗ trợ phát triển thị trường khoa học và công nghệ trong nước; tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động CGCN để cải thiện trình độ công nghệ quốc gia, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp, thúc đẩy chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần phát triển bền vững đất nước. Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước có thêm cơ chế để ngăn chặn nhập khẩu công nghệ lạc hậu, tiếp thu và làm chủ công nghệ tiên tiến của thế giới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

ĐBND
Ảnh: Duy Thông
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang