CÔNG NGHỆ - MÔI TRƯỜNG
Cập nhật 09:49 | 22/11/2017 (GMT+7)
.
Tổng giám đốc Viettel, Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng

Hành trình của sự khác biệt

08:24 | 18/04/2017
Tại Hội nghị Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức mới đây, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng giám đốc Viettel, Thiếu tướng NGUYỄN MẠNH HÙNG chia sẻ: “Ở Viettel quan niệm làm lãnh đạo là thực hiện được ba việc: Một là phải nghĩ ra việc khó; hai là phải khó tính khi nghiệm thu sản phẩm, và thứ ba là tranh luận”.

Tìm việc khó nhất để làm

- Sau gần 30 năm, Viettel không chỉ trở thành Tập đoàn viễn thông và công nghệ thông tin lớn nhất Việt Nam mà còn được đánh giá là một trong những Tập đoàn có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới trong lĩnh vực này, thuộc Top 15 Công ty viễn thông toàn cầu về số lượng thuê bao. Điều gì đã làm lên thành quả này, thưa ông? 


Cuộc cách mạng về 2G cách đây 12 năm giúp người dân nhiều vùng “xóa mù a lô”. Bây giờ, với công nghệ 4G có thể sẽ là cuộc cách mạng “xóa mù tri thức, xóa mù công nghệ”. Viettel đặt ra mục tiêu đến năm 2020, mỗi người dân Việt Nam có một chiếc điện thoại thông minh để truy cập interrnet.

Tổng giám đốc Viettel, Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng

- Quá trình phát triển của Viettel là cả một hành trình “vượt khó”. Đầu tiên, Viettel có ước mơ mỗi người Việt Nam có một chiếc điện thoại và chỉ sau 4 năm đã làm được. Thành công rồi, chúng tôi lại nghĩ phải vươn ra nước ngoài để cạnh tranh. Năm 2006, Viettel bắt đầu thành lập Ban quản lý dự án đầu tư nước ngoài với 6 người, trong tay không có nhiều tiền, ngôn ngữ bất đồng... Đến nay, số khách hàng của Viettel ở nước ngoài đã lên tới 35 triệu thuê bao, doanh thu 1.4 tỉ USD/năm, tạo 10 nghìn việc làm cho người nước ngoài. Việc Viettel “nhảy vào” công nghệ cao cũng là cái khó. Trên thế giới rất ít công ty viễn thông chuyển sang làm công nghệ cao. Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng để làm R-D (nghiên cứu - phát triển) thì phải làm công nghệ cao. Nhiều người thường nghĩ thiết bị công nghệ cao thì giá phải đắt vì chi phí nghiên cứu rất tốn kém nhưng chúng tôi nghĩ khác, nếu sản xuất thiết bị công nghệ cao mà có một thị trường rộng lớn, nhiều khách hàng thì giá thành sẽ càng rẻ. Vậy là Viettel hòa về nông thôn, mở ra cơ hội cho rất nhiều người có thể dùng di động.

Chúng tôi nghiệm ra rằng càng khó thì càng quyết tâm hơn và càng thông minh, sáng tạo hơn. Ở Viettel có 2 điểm cốt lõi: một là, thách thức cái khó; hai là, khác biệt. Có thể nói, cái gốc cho sự phát triển của Viettel ngày nay chính là “tìm việc khó nhất để làm”. Chúng tôi quan niệm lãnh đạo ở Viettel phải làm được 3 việc: thứ nhất, phải nghĩ ra việc khó; thứ hai, phải khó tính khi nghiệm thu sản phẩm; thứ ba, tranh luận.

- Từ kinh nghiệm của Viettel, ông có thể chia sẻ gì về việc ứng dụng và phát triển KH - CN? Làm thế nào để có thể “tích tụ” KH - CN một cách nhanh nhất?

- Chúng ta hay nghĩ rằng, để ứng dụng KH - CN, nhất là công nghệ cao thì phải hợp tác với “ông lớn” mới được. Viettel cũng có lúc suy nghĩ như vậy. Nhưng có những lĩnh vực, chúng tôi đàm phán mãi, mất cả nửa năm trời cũng không ký được hợp đồng nào. Lúc đó, chúng tôi mới vỡ lẽ, họ sẽ không bao giờ chuyển giao công nghệ mà chỉ bán dây chuyền, bán sản phẩm thôi.

Việc chuyển giao công nghệ không chỉ là xây dựng nhà máy, mua thiết bị, đầu tư dây chuyền hay đào tạo… mà đôi khi chỉ là một câu nói “khai sáng”. Ví dụ khi chúng tôi bắt tay vào nghiên cứu vũ khí, thử nghiệm bắn thẳng, sang trái, phải, lên xuống đều được, nhưng khi “khớp lệnh” vừa sang trái vừa đi lên thì bắn bao nhiêu cũng hỏng hết, rất tốn kém. Chúng tôi mời chuyên gia một số nước thì đều nói phải mất nhiều tháng, thậm chí nhiều năm mới tìm được cách giải quyết. Nhưng có một lần, rất tình cờ, chúng tôi ngồi nói chuyện với một chuyên gia, ông ta nói: “Nguyên tắc đầu tiên trong quản trị là một người không nhận lệnh từ hai người”. Chỉ một câu nói này, chúng tôi đã nhận ra sai lầm của mình là do đã đặt hai lệnh cùng lúc khiến chúng loại trừ lẫn nhau. Sau đó, chúng tôi đưa ra giải pháp hợp hai lệnh thành một và đã thành công.

Một ví dụ như vậy để thấy rằng, quá trình tích lũy, học hỏi và ứng dụng công nghệ trước hết đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tự thân nỗ lực, điều này chiếm tới 80 - 90% còn việc tiếp thu từ nước ngoài chỉ chiếm 10% trong toàn bộ quá trình.


Niềm vui các kỹ sư Viettel khi vừa hoàn thành trạm BTS

Khát vọng “xóa mù” CNTT cho nông dân

- Hiện nay, Viettel đang tích cực triển khai hạ tầng viễn thông 4G, đây là nền tảng mở ra cơ hội cho nhiều loại hình dịch vụ công nghệ thông tin. Tuy nhiên, nước ta cơ bản là nông dân, việc tiếp cận với CNTT còn nhiều hạn chế. Viettel đã có kế hoạch như thế nào để đưa CNTT, KH - CN đến với đồng bào vùng sâu, vùng xa?

- Đây là việc mà Viettel đã tính đến. Chúng ta có thể dùng nền tảng internet của Việt Nam, chứa tri thức của Việt Nam để khi có người tra cứu thông tin thì nền tảng đó sẽ dùng trí tuệ nhân tạo để chọn lọc, so sánh thông tin rồi chuyển câu hỏi tới cho chuyên gia, chuyên gia trả lời và thông tin được gửi lại cho người hỏi. Chúng tôi đang triển khai dự án này với ước mơ, khát vọng góp phần “xóa mù” thông tin cho nông dân.

- Viettel đã rất thành công khi đầu tư vào 12 quốc gia và thuê chuyên gia nước ngoài thực hiện các hoạt động R-D. Điều này, đi ngược với cách nghĩ vẫn khá phổ biến trong xã hội ta hiện nay là “đi làm thuê cho Tây”. Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm gì về cách thức quản lý, sử dụng khoản trích đầu tư cho KH - CN ở Viettel?

- Các doanh nghiệp được phép trích 10% lợi nhuận trước thuế để đầu tư nghiên cứu. Để xét duyệt đề tài nghiên cứu thì trước đây chúng ta hay có Hội đồng. Nhưng thật sự, Hội đồng nhiều khi cũng không thể biết trước được liệu các kết quả nghiên cứu sẽ đi tới đâu. Mặt khác, Hội đồng phải xét duyệt rất kỹ lưỡng, rất sâu, thậm chí xét duyệt tới cả việc tại sao phải mua điện trở, tụ này, tại sao lại là hai đồng mà không phải một đồng? Cách quản lý như vậy là không ổn. Lẽ ra, phải quản lý mục tiêu thì chúng ta lại đi quản lý cách làm.

Vậy mục tiêu của nghiên cứu là gì? Chính là sản phẩm. Và mục tiêu của sản phẩm chính là phải bán được, phải được thị trường chấp nhận. Vì thế Viettel đưa ra quy định: “Người thực hiện đề tài nghiên cứu xin bao nhiêu tiền tôi cũng cấp, nhưng sau hai năm phải trả lại đúng số tiền đó cộng với lãi, tức là nghiên cứu phải bán được, phải có lãi. Các viện nghiên cứu của Viettel được xác định là các công ty. Vì thế, họ phải tiết kiệm, không ai dám xin nhiều. Vì cầm nhiều tiền mà không ra được sản phẩm có lãi là “chết”. Nhờ đó mà số tiền R-D của Viettel sinh lãi, năm nay có 4.500 tỷ đồng thì năm sau có 9.000 tỷ đồng, cứ thế lớn lên.

- Qua câu chuyện của Viettel, có thể thấy được vai trò dẫn dắt của các tập đoàn lớn đối với hoạt động nghiên cứu trong từng lĩnh vực. Nhưng nếu các tập đoàn lớn liên kết với các viện cùng làm KH-CN thì kết quả có lẽ sẽ tốt hơn nhiều, thưa ông?

- Hiện nay Viettel vẫn phải thuê các đơn vị bên ngoài cùng tham gia các hoạt động R-D vì nhu cầu sản phẩm công nghệ rất nhiều. Chúng tôi xác định đóng vai trò hạt nhân, xác định nhu cầu, mục tiêu rồi đi “đặt hàng” các viện nghiên cứu trong quân đội, trong nước. Mô hình này cũng giống như Boeing, họ chỉ làm thị trường là chính còn lại thuê ngoài tới hơn 10 nghìn công ty, kể cả với một số công nghệ cốt lõi. Làm theo mô hình này thì rất có thể Viettel sẽ liên kết được với các viện. Tôi rất muốn cùng Bộ Khoa học và Công nghệ tìm hiểu thông tin và tận dụng nguồn lực của các đơn vị nghiên cứu trong nước. Hình thức hợp tác sẽ rất linh hoạt. Như Viettel thuê 35 chuyên gia giỏi ở nước ngoài nhưng họ chỉ làm việc ở nước họ và trả kết quả cho Viettel.

- Xin cảm ơn ông!

CHÍ TUẤN ghi
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang