ĐỊA PHƯƠNG
Cập nhật 20:41 | 18/01/2018 (GMT+7)
.

“Nhập khẩu” kiến thức để làm giàu

08:11 | 12/01/2018
Đó là câu chuyện về gia đình chị Đặng Thị Cuối, anh Nguyễn Đăng Quý, thôn Đoài Khê, xã Đan Phượng (huyện Đan Phượng, Hà Nội). Sau 16 năm xuất khẩu lao động tại Đài Loan, anh chị trở về mang theo kho kiến thức nghề và xây dựng thành công mô hình trồng rau hữu cơ ứng dụng công nghệ cao với mức thu nhập hàng tỷ đồng/năm.

Thành công từ trồng rau hữu cơ

 Những năm gần đây, TP Hà Nội đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là phát triển nông nghiệp hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao. Theo đó, thành phố đã và đang có nhiều cơ chế, chính sách thu hút các DN, tổ chức, hộ gia đình đầu tư dự án ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp nhằm tăng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo ra khối lượng nông sản hàng hóa an toàn, có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu thị trường, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Xuất phát từ nghèo khó, đôi vợ chồng trẻ xuất khẩu lao động từ năm 2001. Tại Đài Loan, họ được đào tạo chuyên sâu về cách trồng, chăm sóc, sơ chế, bảo quản rau hữu cơ trong nhà màng lưới và ngoài tự nhiên. Trong những năm tháng ấy, dù nhận được mức lương 50 triệu đồng/tháng, nhưng anh Quý lúc nào cũng đau đáu suy nghĩ, nghề trồng rau hoàn toàn có thể áp dụng được trên đồng đất quê hương, nên sớm muộn cũng phải trở về thực hiện. Nghĩ vậy, anh chị đã tích cóp thật nhiều kiến thức, mua các thiết bị cần thiết để gửi về quê, ấp ủ dự định làm chủ vùng rau sản xuất hữu cơ, ứng dụng quy trình công nghệ Đài Loan. 

Tháng 5.2017, sau khi về nước, chị Cuối đã gom 1.360m2 đất của gia đình và thuê thêm gần 3ha đất nông nghiệp của 52 hộ dân tại xứ đồng Bãi Tổng để làm dự án trồng rau hữu cơ công nghệ cao. Sau khi được thuê đất, anh chị đầu tư thêm 1,7 tỷ đồng xây dựng hạ tầng, mua thiết bị, giống, vật tư… để trồng cả rau màu tự nhiên lẫn trong nhà lưới. Hệ thống nhà lưới làm theo công nghệ Đài Loan không quá phức tạp, chỉ lắp ghép nhưng rất vững và kín, việc tháo dỡ, dựng lại cũng dễ dàng. Trên nóc mỗi nhà lưới phủ một lớp nylon, tạo thành miệng túi để thu, nhốt côn trùng. Những luống rau trồng trong khu nhà lưới được nhận đủ ánh sáng, không khí mà không bị ảnh hưởng bởi thời tiết mưa, gió, bão lớn bên ngoài nên lúc nào cũng xanh tốt, năng suất cao và trồng được quanh năm.


Thứ trưởng Bộ NN và PTNT Trần Thanh Nam thăm mô hình rau hữu cơ Quý Cuối tại xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, Hà Nội
Ảnh: Đào Cảnh

Vợ chồng chị Cuối, anh Quý không chỉ “nhập khẩu” quy trình kỹ thuật, kiến thức trồng rau mà các giống rau mới cũng được lấy giống từ Đài Loan, Mỹ, Nhật. Điểm khác biệt của các loại rau “nhập khẩu” này là thời gian thu hoạch kéo dài tới 9 tháng. Điển hình như cây rau su hào hoa Đài Loan được trồng tự nhiên, loại cây này không có củ, thân mập, khi thu hoạch thì cắt ngọn (ngồng chính), sau đó các mầm rau lại mọc lên, tiếp tục thu hoạch trong vài tháng tiếp theo. Hay cây súp lơ tí hon của Nhật cũng tương tự, thu hoạch kéo dài nên thu nhập được nhân lên nhiều lần. Chị Cuối khoe: “Ngay tháng đầu tiên thu hoạch đã được hơn 100 triệu đồng. Mỗi sào rau súp lơ tí hon, su hào hoa này có khi cho thu đến hơn 240 triệu đồng/năm”.

Cả cánh đồng rộng hơn 3ha nhưng chỉ có chưa đến 10 lao động, chủ yếu làm công việc kiểm tra, diệt sâu, bướm ở túi nhốt côn trùng và thu hoạch. Sở dĩ nhân công ít vì mô hình sản xuất rau của gia đình chị Cuối đã ứng dụng toàn bộ hệ thống tưới nước tự động, bán tự động và các thiết bị đo nhiệt độ, độ ẩm, sổ nhật ký theo dõi từ ngày gieo trồng, chăm sóc, tình hình sinh trưởng, thu hoạch. Các loại rau giống cũng được sản xuất theo quy trình khép kín từ vườn ươm giống cho đến khi thành phẩm. Giá thể đất được xử lý mầm sâu bệnh, cỏ dại bằng phương pháp đốt nhiệt, ngâm nước, dùng nấm đối kháng, vôi bột, bón lót phân hữu cơ nên không tốn thời gian mà đạt hiệu quả cao.

Những ngày này, cánh đồng rau hữu cơ của gia đình chị Cuối lúc nào cũng nhộn nhịp. Công nhân thu hái luôn tay mà vẫn không đủ rau để cung cấp cho khách hàng từ các trường học, cửa hàng rau sạch, siêu thị...

Nhân rộng mô hình

Nhận thấy hiệu quả từ mô hình sản xuất rau hữu cơ Quý Cuối, UBND huyện Đan Phượng và xã Đan Phượng đã tạo điều kiện hỗ trợ hoàn thiện thủ tục, hồ sơ. Hỗ trợ 100% kinh phí lắp đặt nhà lạnh bảo quản rau; hỗ trợ thủ tục pháp lý, hướng dẫn lập dự án để phê duyệt và trình TP Hà Nội xem xét hỗ trợ mô hình nông nghiệp công nghệ cao theo Nghị quyết số 03 (2015) của HĐND TP Hà Nội. HTX Đan Phượng cũng trích 10 triệu đồng từ quỹ sản xuất để hỗ trợ hệ thống điện và cấp miễn phí khoai tây giống.

Bí thư Huyện ủy Đan Phượng Nguyễn Tất Thắng chia sẻ rằng, đây là hộ nông dân dám nghĩ, dám làm, dũng cảm bỏ công việc mức lương cao để đầu tư hàng tỷ đồng cải tạo đất, trồng rau sạch, làm giàu ở quê hương. Khi được Bí thư hỏi: “Nếu có người muốn học để làm theo thì anh chị nghĩ thế nào?”, anh Quý trả lời ngay: “Đó là mong muốn của chúng tôi”. Vợ chồng anh chị sẵn sàng hỗ trợ từ làm nhà lưới, kỹ thuật canh tác và mua giúp thiết bị kỹ thuật, rau giống cho những người có ý định trồng rau hữu cơ.

Chỉ cách đây vài ngày, Thứ trưởng Bộ NN - PTNT Trần Thanh Nam cùng Đoàn công tác của Bộ NN - PTNT đã đến tham quan mô hình này. Thứ trưởng đã vô cùng tâm đắc và cho rằng, đây là điển hình cho việc làm nông nghiệp công nghệ cao quy mô hộ gia đình, không nhất thiết phải có nhà lưới, nhà kính quá hiện đại, cũng không cần diện tích quá lớn. Mô hình không chỉ làm tăng hiệu quả sử dụng đất, bảo vệ môi trường, sức khỏe cộng đồng, tăng cao thu nhập cho nông dân, mà còn tạo việc làm, góp phần phát triển kinh tế địa phương. Thứ trưởng cũng cho rằng, TP Hà Nội cần nghiên cứu, tạo điều kiện hơn nữa để hỗ trợ sáng kiến của nông dân, góp phần nhân rộng các mô hình nông nghiệp công nghệ cao như mô hình của anh chị Quý Cuối. Đây là sự đột phá, thay đổi tư duy của nông dân trong thời kỳ hội nhập cần được phát huy và nhân rộng.

ĐÀO CẢNH
Xem tin theo ngày:
TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM
08:09 06/04/2016
Phát triển mô hình Hợp tác xã (HTX) phù hợp với nhu cầu thực tế của nông dân, lao động nghèo, đặc biệt càng phù hợp hơn đối với những địa phương có khu vực nông thôn miền núi. Với đóng góp vào ngân sách chung của tỉnh mỗi năm khoảng 0,4%, Hòa Bình mong muốn nhân rộng và phát triển mô hình kinh tế nòng cốt này. Tuy nhiên, làm thế nào để HTX thực sự “lột xác” và phát triển bền vững là bài toán khó, phải “gỡ” nhiều “nút thắt”...
Quay trở lại đầu trang