ĐỊA PHƯƠNG
Cập nhật 08:54 | 17/08/2017 (GMT+7)
.

Tạo dựng thương hiệu chè Tuyên Quang

08:50 | 13/08/2017
Là tỉnh có diện tích chè lớn (gần 9.000ha) và được xếp vào top 5 tỉnh có nhiều diện tích chè ở các tỉnh miền núi phía Bắc, song chè Tuyên Quang vẫn chưa tạo dựng được thương hiệu, năng suất thấp và đời sống người làm chè chưa cao.

Diện tích nhiều, năng suất thấp

Theo đánh giá mới đây của Sở NN - PTNT, toàn tỉnh hiện có 8.861ha chè, trong đó có 8.432ha cho thu hái. Huyện Yên Sơn có diện tích chè lớn nhất, 2.937ha; Hàm Yên 2.137ha; Sơn Dương 1.567ha; Nà Hang 1.366ha; còn lại các huyện, thành phố dưới 500ha. Tính năng suất chè bình quân năm 2016 đạt 78 tạ/ha (bình quân chung của cả nước là 88 tạ/ha). Yên Sơn cũng là huyện có năng suất đạt cao nhất, 93 tạ/ha; Sơn Dương 86 tạ/ha, Hàm Yên 82 tạ/ha; Nà Hang 36 tạ/ha. Năng suất chè đạt thấp do diện tích chè chủ yếu trong dân, các hộ trồng tự phát, không ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật về giống mới và thực hiện biện pháp thâm canh chè.

Những nơi có công ty cổ phần chè (nguyên là nông trường) thì ở nơi đó có năng suất chè cao, phần do các hộ nhận khoán vườn chè với doanh nghiệp, phần do bà con các xã lân cận liên doanh với doanh nghiệp được tiếp cận tiến bộ kỹ thuật thâm canh chè. Yên Sơn có 2 doanh nghiệp (chè Sông Lô và chè Mỹ Lâm), Sơn Dương có chè Tân Trào. Đây là những doanh nghiệp chuyên sản xuất kinh doanh chè nhiều năm trên địa bàn tỉnh.

Điều dễ nhận thấy trong cơ cấu 15 giống chè trên địa bàn, những giống chè lá mỏng, búp nhỏ phát triển chậm (chè Trung du) chiếm tới 50% diện tích chè của tỉnh. Các giống chè có năng suất và chịu thâm canh như PH1, PH8, LDP1, LDP2 có 2.803ha chiếm 30% diện tích, còn lại 20% là giống chè đặc sản (Bát Tiên, Đại Bạch Trà, Kim Tuyên, Ngọc Thúy, Phúc Vân Tiên). Tổng sản lượng chè nguyên liệu thu hái năm 2016 toàn tỉnh đạt 65.674 tấn, tăng 3.500 tấn so với năm 2014.

Chỉ đáp ứng 50% công suất chế biến

“Thời gian qua, Tuyên Quang đã ban hành nhiều cơ chế chính sách khuyến khích sản xuất hàng hóa nói chung, và cây chè nói riêng. Trong đó có Nghị quyết chuyên đề về phát triển nông nghiệp hàng hóa giai đoạn 2016 - 2025. Trước đó, năm 2014 có Nghị quyết 10 và 12 của HĐND tỉnh về khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, hỗ trợ một số cây trồng, vật nuôi. Cùng với đó là Nghị quyết 41 của HĐND tỉnh khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; chế tài về quản lý sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây chè và Quyết định số 10, Kế hoạch số 47 về dự án cánh đồng lớn”.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đình Quang     

Theo điều tra mới đây, toàn tỉnh có 45 doanh nghiệp và HTX, tổ hợp tác đăng ký kinh doanh chế biến tiêu thụ sản phẩm chè với công suất chế biến 514 tấn nguyên liệu/ngày (16.850 tấn/năm). Từ các cơ sở chế biến và công suất thiết bị hiện nay, sản lượng chè hiện có mới đáp ứng 50% công suất chế biến trên địa bàn. Trong đó huyện Sơn Dương hiện có 15 cơ sở chế biến chè; Hàm Yên 4 cơ sở; Yên Sơn 22 cơ sở; Nà Hang 2 cơ sở; Lâm Bình 1 cơ sở và thành phố Tuyên Quang 1 cơ sở. Năm 2016, các cơ sở trên đã sản xuất chế biến được 8.681 tấn chè thành phẩm, trong đó có 5.121 tấn chè xanh, bằng 59% sản lượng chế biến; còn lại là sản phẩm chè đen. Tổng sản phẩm chè đã tiêu thụ 8.098 tấn, hiện tồn 583 tấn sản phẩm.

Do có nhiều cơ sở chế biến, với thiết bị công nghệ khác nhau và thị trường tiêu thụ khác nhau dẫn đến giá bán có sự chênh lệnh khá rõ. Nhóm hàng sản phẩm xuất khẩu có giá từ 20 - 43 triệu đồng/tấn; nhóm sản phẩm nội tiêu bán từ 60 - 80 triệu đồng/tấn và nhóm hàng có thương hiệu nội tiêu đạt 100 - 120 triệu đồng/tấn. Cá biệt sản phẩm chè Bát Tiên Mỹ Bằng 350 - 500 triệu đồng/tấn. 

Trong các sản phẩm chè trên địa bàn, duy nhất sản phẩm chè đen của Công ty cổ phần chè Mỹ Lâm đang đứng đầu cả nước về chất lượng sản phẩm và xuất khẩu sang các thị trường khó tính (Mỹ và Nhật Bản). Do thực hiện theo chuỗi giá trị, sản xuất quản lý nông nghiệp theo tiêu chí Rainforest và công nghệ chế biến hiện đại CTC khác hẳn công nghệ chế biến cũ OTD (Orthodox), nên đã nâng cao giá trị sản phẩm. Đây là sản phẩm chè đen có thương hiệu, thị trường tiêu thụ ổn định và có sức cạnh tranh cao.


Hộ nhận khoán đội 11, Công ty cổ phần chè Mỹ Lâm thu hái chè nguyên liệu

Nâng cao giá trị sản phẩm

Theo Quyền Giám đốc Sở NN - PTNT Nguyễn Công Nông, cây chè đã khẳng định vị thế và trụ vững trên đất Tuyên Quang trong gần 60 năm qua. Chè từng là cây công nghiệp hàng đầu của tỉnh, cây xóa đói giảm nghèo và ngày nay chè đang là 1 trong 5 sản phẩm hàng hóa chủ lực. Tuy nhiên, thực trạng sản xuất chè của Tuyên Quang chưa phát huy được tiềm năng, lợi thế vốn có. Trong nông nghiệp, năng suất chè nguyên liệu có sự chênh lệch khá lớn. Các công ty cổ phần có từ 7 - 10% diện tích đạt năng suất từ 20 - 30 tấn/ha/năm. Trái lại, diện tích chè thuộc các hộ dân quản lý năng suất chỉ đạt 4 - 7 tấn/ha/năm, do sử dụng giống chè thoái hóa; trồng chè ở vị trí có độ dốc cao; mật độ không đông đặc (mất khoảng) và chăm sóc thâm canh không bảo đảm quy trình.

Trong công nghiệp chế biến có tới 45 cơ sở với trình độ và thiết bị công nghệ khác nhau sẽ tạo ra mặt hàng sản phẩm khác nhau. Hầu hết doanh nghiệp tư nhân tự sản xuất chế biến sản phẩm chè xanh truyền thống theo quy trình làm héo, dệt men, vò sao khô và lên hương, đánh mốc. Mặc nhiên, chưa có chế tài và tiêu chí về xác định xuất xứ nguyên liệu, vệ sinh công nghiệp, an toàn thực phẩm và tiêu chí sản phẩm chè xanh về màu nước, hương, vị của sản phẩm chè.

Để nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm, tạo thương hiệu và cải thiện thu nhập cho người làm chè, rất cần có chế tài quản lý cụ thể vùng nguyên liệu cho từng cơ sở sản xuất, giảm thiểu tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đủ thời gian cách ly. Đặc biệt, chính quyền các cấp cần có chính sách hỗ trợ khuyến khích khâu chế biến, tạo ra sản phẩm chè chất lượng có sức cạnh tranh cao và đa dạng mẫu mã sản phẩm chè.

Bài, ảnh: Duy Hùng
Xem tin theo ngày:
TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM
08:09 06/04/2016
Phát triển mô hình Hợp tác xã (HTX) phù hợp với nhu cầu thực tế của nông dân, lao động nghèo, đặc biệt càng phù hợp hơn đối với những địa phương có khu vực nông thôn miền núi. Với đóng góp vào ngân sách chung của tỉnh mỗi năm khoảng 0,4%, Hòa Bình mong muốn nhân rộng và phát triển mô hình kinh tế nòng cốt này. Tuy nhiên, làm thế nào để HTX thực sự “lột xác” và phát triển bền vững là bài toán khó, phải “gỡ” nhiều “nút thắt”...
Quay trở lại đầu trang