ĐỊA PHƯƠNG
Cập nhật 18:21 | 17/08/2017 (GMT+7)
.
Áp dụng khoa học vào trồng vải ở Bắc Giang

Bài cuối: Hứa hẹn mùa vải bội thu

07:34 | 13/06/2017
Với việc ứng dụng các nghiên cứu khoa học, năng suất vải thiều vụ vải sớm của Bắc Giang tăng trung bình 20%, thậm chí có vườn tăng 30%, sản lượng đạt khoảng 15 - 17 tấn/ha. Mức tăng này cao hơn nhiều so với mức tối thiểu 10% mà các nhà khoa học đặt ra khi thực hiện đề tài.

>> Bài 1: Mùa vải sớm

Hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật cho người trồng vải

Chứng kiến thành quả nghiên cứu của mình và tập thể các nhà khoa bước đầu cho trái ngọt, ThS. Nguyễn Đức Thành, Chủ nhiệm Đề tài Nghiên cứu thực trạng và biện pháp kỹ thuật tổng hợp duy trì, nâng cao độ phì đất góp phần tăng năng suất và ổn định chất lượng vải thiều không giấu nổi cảm xúc vui mừng. Ông Thành cho biết, các mô hình thực nghiệm vải chín sớm Phúc Hòa có hơn 2.300 hoa/chùm, số quả trung bình đạt hơn 7 quả/chùm, tăng so với các hộ dân không thực hiện mô hình 31,8%. Về hình thức, quả vải to và đỏ hơn. Về chất lượng, vải ngọt và không bị sâu cuống.


Giám đốc Sở KH-CN Bắc Giang Nguyễn Đức Kiên thăm mô hình trồng vải áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới
Ảnh: H. Ly

 Hoạt động KH-CN có vai trò rõ rệt trong gia tăng hiệu quả và giá trị của sản xuất nông nghiệp. Rất nhiều chuyên gia đánh giá: KH-CN đóng góp từ 30-35% giá trị sản phẩm nông nghiệp. Những năm qua, Bộ KH-CN có nhiều chương trình cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Tại địa phương, khoảng 1/3 các nhiệm vụ KH-CN thuộc lĩnh vực nông nghiệp với khoảng 80% các nhiệm vụ, đề tài được đưa vào ứng dụng. Khi một sản phẩm nông nghiệp được KH-CN đầu tư, giá trị tăng rất rõ. Với quả vải thiều Bắc Giang, sau khi các chương trình KH-CN tập trung nghiên cứu, nâng cao chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu, nghiên cứu công nghệ chế biến, bảo quản, giá trị quả vải đã được tăng lên nhiều.

Ông Nguyễn Văn Liễu, Vụ trưởng Vụ Phát triển KH-CN địa phương, Bộ KH-CN

“Đặc biệt, năng suất tăng từ 15 đến 20%, sản lượng rơi vào khoảng 15-17 tấn/ha. Vải ở các vườn mô hình có mã quả đẹp, đều, vỏ mỏng và to hơn ở vườn chăm sóc theo phương pháp truyền thống; giá bán bình quân hơn 32 nghìn đồng/kg, cao hơn 12 nghìn đồng/kg so với vải chăm sóc đại trà. Đồng thời, mỗi hecta giảm được 15 triệu đồng chi phí mua phân bón so với trước đây”, ông Thành cho biết.

Ông Nguyễn Đức Kiên, Giám đốc Sở KH-CN Bắc Giang cho biết thêm, các nhà khoa học nghiên cứu về chất đất để trồng cây vải thiều. Cụ thể, nghiên cứu nhu cầu của cây vải thiều cần các loại chất dinh dưỡng như thế nào. Thứ hai, nghiên cứu chất đất thực tế ở vùng trồng vải thiều ở vùng Lục Ngạn và Tân Yên (Bắc Giang) xem có đủ điều kiện và phù hợp cho cây vải thiều hay không, cần phải bổ sung các loại chất gì.

“Qua nghiên cứu cho thấy, cần bổ sung nhiều hơn nữa một số yếu tố thông qua các biện pháp bón phân để tăng cường chất dinh dưỡng cho cây vải thiều có thể sinh trưởng và phát triển tốt, có khả năng kháng lại sâu bệnh. Cùng với đó, quá trình nghiên cứu đã đưa ra quy trình chăm sóc cây vải thiều một cách khoa học. Bao gồm bón các loại phân gì, bón khi nào, liều lượng bón ra sao...”, ông Nguyễn Đức Kiên cho hay.

Cũng theo Giám đốc Sở Nguyễn Đức Kiên: “Chúng tôi đánh giá rất cao việc ứng dụng một đề tài khoa học mà làm tăng sản lượng vải thiều trung bình lên 20%, thậm chí có vườn tăng 30%. Do là một đề tài nghiên cứu nên quy mô chưa được lớn. Tôi đề nghị Bộ KH-CN triển khai dự án cấp Nhà nước nằm trong chương trình Nông thôn miền núi, ứng dụng Công nghệ của Viện Hàn lâm KH-CN trên một diện tích đủ lớn, chúng tôi đề xuất khoảng 100ha vải thiều để mang lại lợi lớn hơn cho người trồng vải Bắc Giang”.

Được biết, Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam đã chuyển giao quy trình chăm sóc, quy trình bón phân cho cây vải thiều cho Sở KH-CN Bắc Giang để chuyển giao cho người dân. Theo ông Nguyễn Đức Kiên: “Quy trình chăm sóc, bón phân cần tiếp tục hoàn thiện trong 1, 2 vụ tới để cây vải thiều thích ứng tốt hơn trước những điều kiện khắc nghiệt của thời tiết, có thêm nhiều ưu điểm để nâng cao giá trị quả vải”.

Giảm thiểu tác hại của biến đổi thời tiết

Diễn biến nắng nóng bất thường cuối tháng 5, đầu tháng 6 vừa rồi đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng đậu quả của vải chính vụ. Nhiều vườn vải ở vựa vải Lục Ngạn, Bắc Giang, tỷ lệ đậu quả chỉ khoảng 30%. Dự báo, vải chính vụ của Bắc Giang năm nay giảm sản lượng ít nhất một nửa so với năm ngoái. Sự khắc nghiệt của thời tiết cũng khiến niềm vui của những nhà khoa học nghiên cứu nâng cao năng suất và chất lượng vải thiều chưa trọn vẹn. Mặc dù vậy, dấu ấn của khoa học kỹ thuật cũng vẫn rõ nét. Theo ThS. Nguyễn Đức Thành, kết quả áp dụng tại các mô hình vải chính vụ cho thấy, mặc dù ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng, song tỷ lệ ra hoa, đậu quả của các cây vải tham gia mô hình gần gấp đôi so với vườn vải đối chứng hoặc vườn vải trồng theo cách truyền thống.

Để nâng cao giá trị của quả vải, bên cạnh phối hợp với Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam triển khai Đề tài nêu trên, Sở KH-CN Bắc Giang đã phối hợp cùng với Công ty TNHH Công nghệ Nano STV nghiên cứu áp dụng công nghệ nano bạc để trồng, chăm sóc vải thiều với mục tiêu nâng cao chất lượng vải thiều lên 20% ngay khi quả vải còn ở trên cây. Ngoài ra, Sở cũng đã phối hợp với Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam triển khai nghiên cứu công nghệ bao gói khí quyển trong bảo quản vải thiều, công nghệ này có giá rẻ, phục vụ đắc lực cho hoạt động xuất khẩu vải.

“Với trách nhiệm của Sở KH-CN, chúng tôi không dừng ở chất lượng, mẫu mã như hiện tại mà liên tục nghiên cứu, áp dụng KH-CN để nâng cao giá trị của sản phẩm vải thiều. Tới đây, mục tiêu của Bắc Giang đưa ra là tăng diện tích trồng vải thiều bằng các tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn châu Âu từ 13.000ha hiện tại lên 20.000ha, từ đó tăng khả năng xuất khẩu và giá trị quả vải. Đặc biệt, ngành khoa học chúng tôi cũng sẽ tập trung làm sao để cây vải thiều có thể thích ứng với các hình thái thời tiết khắc nghiệt”, Giám đốc Sở Nguyễn Đức Kiên cho biết.

Các hình thái khắc nghiệt của thời tiết, biểu hiện của biến đổi khí hậu tiếp tục đặt ra các bài toán chờ sự giải quyết của các nhà khoa học. Nắng nóng năm nay ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, trong đó có cây vải thiều là điều nhãn tiền. Để giải quyết bài toán này, bên cạnh kinh nghiệm của các hộ trồng vải, thì các nhà khoa học đóng vai trò quyết định trong việc đưa ra các giải pháp tổng thể từ giống, phân bón, quy trình chăm sóc, bảo quản để có thể nâng cao sản lượng và giá trị quả vải.

Minh Quốc
Xem tin theo ngày:
TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM
08:09 06/04/2016
Phát triển mô hình Hợp tác xã (HTX) phù hợp với nhu cầu thực tế của nông dân, lao động nghèo, đặc biệt càng phù hợp hơn đối với những địa phương có khu vực nông thôn miền núi. Với đóng góp vào ngân sách chung của tỉnh mỗi năm khoảng 0,4%, Hòa Bình mong muốn nhân rộng và phát triển mô hình kinh tế nòng cốt này. Tuy nhiên, làm thế nào để HTX thực sự “lột xác” và phát triển bền vững là bài toán khó, phải “gỡ” nhiều “nút thắt”...
Quay trở lại đầu trang