ĐỊA PHƯƠNG
Cập nhật 16:37 | 19/12/2014 (GMT+7)
.

Sản xuất lúa bền vững gắn với tái cơ cấu
sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long

08:30 | 18/09/2013

Tại Hội thảo “Mô hình tổ chức sản xuất, quản lý mới trong nông nghiệp, nông thôn” do Ủy ban Kinh tế phối hợp với Bộ NN và PTNT, Hội Nông dân Việt Nam tổ chức tại TP Cần Thơ mới đây, một trong những nội dung thu hút sự quan tâm là mô hình sản xuất lúa bền vững gắn với tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Hiệu quả thiết thực từ những mô hình sản xuất lúa bền vững

Trong những năm qua, sản xuất lúa khu vực ĐBSCL đã đạt nhiều thành tựu, một trong những nguyên nhân do người nông dân được tiếp cận và thực hiện nhiều chương trình khuyến nông. Cụ thể năm 2003, được sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), Bộ NN và PTNT đã triển khai thí điểm chương trình sản xuất lúa “3 giảm, 3 tăng” (Giảm mật độ giống, thuốc BVTV, phân hóa học; tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế) tại một số tỉnh, thành trong khu vực như Cần Thơ, An Giang... Theo báo cáo của Cục Bảo vệ thực vật, Bộ NN và PTNT, diện tích áp dụng mô hình này đạt khoảng 35% diện tích trồng lúa vùng ĐBSCL, tương đương khoảng 1,2 triệu hecta, hiệu quả mang lại 1,1 triệu đồng/ha, lợi ích toàn vùng một năm là trên 1.300 tỷ đồng.

Năm 2009, một chương trình sản xuất mới “1 phải, 5 giảm” được thực hiện ở tỉnh An Giang, Hậu giang... Chương trình này chủ yếu kế thừa và nâng cao hơn chương trình “3 giảm, 3 tăng”. Cụ thể, “1 phải” là sử dụng giống tốt, giống xác nhận. “5 giảm” là: giảm giống bằng việc áp dụng mật độ sạ hợp lý 80 – 100 kg lúa giống/ha và áp dụng công cụ gieo sạ theo hàng; giảm lượng phân đạm thông qua việc ứng dụng biện pháp bón phân đạm theo bảng so màu lá lúa; hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo đúng quy trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM; giảm lượng nước tưới và số lần bơm tưới bằng việc áp dụng theo kỹ thuật khô ướt xen kẽ (tưới nước tiết kiệm); ứng dụng thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp và sử dụng biện pháp sấy lúa để giảm thất thoát trong và sau thu hoạch.

Việc áp dụng mô hình “1 phải - 5 giảm” trong sản xuất lúa thời gian qua ngoài bảo đảm gia tăng thu nhập cho người nông dân, mô hình sản xuất lúa bền vững này cùng với sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP là tiền đề xây dựng Cánh đồng mẫu lớn thành công. Kết quả thực hiện mô hình này tại tỉnh Hậu Giang trong vụ Hè Thu năm 2008 giúp tăng lợi nhuận 2.605.000 đồng/ha, vụ Đông xuân 2009 tăng lợi nhuận 2.646.000 đồng/ha so với tập quán canh tác của nông dân. Còn trong vụ hè thu năm 2009 tại tỉnh An Giang, nhờ áp dụng mô hình trên, người nông dân giảm được 24,5kg giống lúa, 6,5kg phân đạm, 8,4kg phân lân, 0,3kg phân kali/ha; giảm 2,4 lần phun thuốc trừ sâu, 1,3 lần phun thuốc trừ bệnh, 2 lần bơm nước/vụ, giảm 11,5% tỷ lệ đổ ngã, nhưng tăng năng suất 190kg lúa/ha, lợi nhuận tăng 3.740.000 đồng/ha so với tập quán canh tác của nông dân...

Tái cơ cấu để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp

Thực hiện chủ trương của Bộ NN và PTNT về tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, ngành nông nghiệp các tỉnh, thành trong khu vực đang tập trung quy hoạch lại sản xuất theo hướng giảm dần diện tích sản xuất lúa bấp bênh, kém hiệu quả, đẩy mạnh phát triển các loại cây trồng cạn theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm trên cơ sở đầu tư mạnh về giống cây trồng, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Tăng cường công tác đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý có trình độ, năng lực. Đặc biệt, chú trọng đến tác động xấu của biến đổi khí hậu để quy hoạch lại ngành trồng trọt, bố trí phát triển sản xuất trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, khó lường.

Các giải pháp để tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp mà ngành nông nghiệp các địa phương trong vùng đang triển khai thực hiện là tổ chức quy hoạch, bố trí lại các vùng sản xuất tập trung, tạo ra giá trị hàng hóa lớn. Trong đó, chú trọng xây dựng các cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa và các loại cây trồng cạn với diện tích từ 30 - 50ha/cánh đồng, bố trí cơ cấu sản xuất các giống có năng suất cao, chất lượng gạo ngon, có thị trường tiêu thụ để nâng cao hiệu quả sản xuất lúa cho nông dân. Chú trọng quy hoạch diện tích sản xuất hạt giống lúa thuần, vùng sản xuất lúa thương phẩm chất lượng cao, gắn với doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm.

Đưa màu xuống ruộng là một trong các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững trong vùng. Diện tích gieo trồng màu ở vùng ĐBSCL tuy không nhiều so với  các vùng sinh thái nông nghiệp khác trong nước, nhưng lại có vai trò quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa một cách hợp lý dựa trên từng loại đất. Tại tỉnh Hậu Giang, mô hình chuyển đổi cơ cấu luân canh cây màu áp dụng đồng bộ với các biện pháp canh tác tổng hợp được thử nghiệm trên 20 hecta ở 2 huyện Châu Thành A và Long Mỹ. So sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình lúa – lúa – lúa với mô hình lúa – bắp lai – lúa ở huyện Châu Thành A cho thấy: mô hình 3 vụ lúa năng suất đạt 14,87 tấn ha/năm, lợi nhuận đạt 50.077.100 đồng/ha. Mô hình lúa – bắp lai – lúa, năng suất đạt 18,15 tấn ha/năm và lợi nhuận đạt 69.698.700 đồng/ha.

Có thể nói, với chủ trương sản xuất lúa bền vững gắn với tái sản xuất nông nghiệp nhằm bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, tăng thu nhập cho người nông dân và bảo vệ môi trường, các ngành hữu quan đã và đang chú trọng đầu tư, mở rộng các mô hình trồng lúa hiệu quả gắn với tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL. Theo TS. Lưu Hồng Mẫn – Viện lúa ĐBSCL, để tiếp tục phát triển ngành sản xuất nông nghiệp của vùng theo hướng bền vững, trước hết cần tăng cường ứng dụng các giải pháp khoa học – công nghệ trong chọn tạo giống lúa có tính thích nghi rộng cho các vụ mùa trong năm và tiêu chí cụ thể cho từng vùng sinh thái của vùng và từng chủng loại lúa –gạo phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ nội địa. Ứng dụng các giải pháp khoa học - công nghệ trong chọn tạo giống cây trồng cạn thích ứng với điều kiện đất đai, khí hậu của các vùng, giống cây trồng cạn chống chịu sâu bệnh, cho năng suất cao và chất lượng tốt theo từng tiểu vùng sản xuất của vùng.

Bên cạnh đó là các giải pháp hỗ trợ kỹ thuật, bao gồm các kỹ thuật giảm giá thành sản xuất, ứng dụng cơ giới hóa, công nghệ sau thu hoạch cho các cây trồng cạn đã chọn theo từng tiểu vùng sản xuất. Giải pháp tổ chức, liên kết sản xuất, chế biến và bao tiêu sản phẩm, gồm xây dựng kinh tế hợp tác sản xuất tự nguyện, cánh đồng mẫu lớn, vùng chuyên canh, nâng cao năng lực tổ chức và quản lý của nông dân và tăng cường mối liên kết “4 nhà”. Đặc biệt, quan tâm hơn đến thị trường sản phẩm cây trồng cạn, bao gồm xây dựng thương hiệu và hệ thống thông tin thị trường hiện đang còn bị bỏ ngỏ.

KHÁNH DUY
Xem tin theo ngày:
TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM
08:31 11/12/2013
Là một trong những xã được chọn để triển khai thực hiện mô hình nuôi gà bán chăn thả, chỉ sau thời gian ngắn xã Linh Hồ, Vị Xuyên, Hà Giang đã thay đổi phương thức chăn nuôi từ nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung bán công nghiệp, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người chăn nuôi.
Quay trở lại đầu trang