PHÁP LUẬT
Cập nhật 00:30 | 17/11/2019 (GMT+7)
.
Bạn đọc viết

Môi trường và thông tin

07:46 | 29/10/2019
Điều 131, Luật Bảo vệ môi trường quy định, thông tin môi trường phải được công khai cho mọi đối tượng, gồm báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường; thông tin về nguồn thải, chất thải, xử lý chất thải; khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái ở mức nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường; các báo cáo về môi trường; kết quả thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường.

Đặc biệt đối với danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường càng được quy định rõ hơn. Theo đó, danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và biện pháp xử lý sau khi phê duyệt được gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường, bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh nơi cơ sở có hoạt động gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng sau 5 ngày kể từ ngày phê duyệt. Sau khi nhận được quyết định phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đăng tải thông tin về cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Môi trường cho đến khi cơ sở được chứng nhận đã hoàn thành biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường.

Không chỉ dừng lại ở việc quy định rõ các thông tin về môi trường mà cộng đồng dân cư được tiếp cận, Luật Bảo vệ môi trường còn quy định, các đại diện cộng đồng dân cư trên địa bàn chịu tác động môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quyền yêu cầu chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cung cấp thông tin về bảo vệ môi trường thông qua đối thoại trực tiếp hoặc bằng văn bản. Để cụ thể hơn các thông tin về môi trường mà cộng đồng dân cư được tiếp cận, Nghị định 19/2015/NĐ-CP đã quy định rất chi tiết về vấn đề này.

Theo đó, các thông tin cộng đồng dân cư được tiếp cận bao gồm: Các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường; báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, địa phương; các báo cáo chuyên đề về môi trường do cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường xây dựng và công bố; danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, các khu vực môi trường bị ô nhiễm, bị suy thoái nghiêm trọng; khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường do cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường lập và công bố; kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn dân cư…

Như vậy, có thể thấy là các quy định về quyền được tiếp cận thông tin môi trường đã rõ. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy nhiều quy định còn nằm trên giấy, chưa phát huy được hiệu quả như mong muốn. Tưởng rằng những quy định đã công khai thì mọi người dân, tổ chức đều có thể tiếp cận, song trên thực tế việc có được các thông tin này không dễ và ngay chính cơ quan quản lý cũng cố tình không cung cấp, công khai thông tin. Không ít cơ quan quản lý nại rằng, thông tin đang trong quá trình xử lý hoặc chưa được phép công bố. Liên quan đến các thông tin chưa được phép công bố hoặc không được phép công bố, Điểm đ, Khoản 1, Điều 128, Luật Tiếp cận thông tin quy định, cơ quan nhà nước có quyền từ chối cung cấp thông tin trong trường hợp ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan. Có thể thấy, quy định này rất rộng, khó xác định cụ thể như thế nào là “trường hợp ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan”? 

Nguyễn Minh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang