PHÁP LUẬT
Cập nhật 12:57 | 22/08/2019 (GMT+7)
.

Hoàn thiện khung pháp lý cho PPP

19:46 | 07/08/2019
Nhà nước tham gia trong dự án đầu tư đối tác công tư như thế nào và việc lựa chọn cơ chế bảo lãnh Chính phủ bằng doanh thu hay ngoại tệ là những vấn đề nhận được nhiều ý kiến xung quanh Dự thảo Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) đang được Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến.

Hiện, có 336 dự án PPP đã ký kết hợp đồng; trong đó có 140 dự án áp dụng loại hợp đồng BoT, 188 dự án áp dụng loại hợp đồng BT và 8 dự án áp dụng các loại hợp đồng khác. Các dự án này đã huy động được khoảng 1.609 tỷ đồng (nguồn Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Cần quy trình riêng?

Theo quy định hiện nay, phần Nhà nước tham gia trong dự án PPP vẫn chủ yếu được bố trí từ nguồn vốn đầu tư công. Phần vốn đầu tư công trong dự án PPP cần phải được tổng hợp trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm theo quy trình, thủ tục của pháp luật về đầu tư công. Điều này dẫn đến sự thiếu linh hoạt trong công tác bố trí vốn bởi phần vốn đầu tư công trong dự án PPP thay đổi theo từng phương án tài chính, phân chia rủi ro và chỉ được xác định chính xác sau khi đã đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư. Đồng thời, nếu thực hiện theo cơ chế hiện hành sẽ ảnh hưởng tới việc thu hút các nhà đầu tư do chưa thấy được sự bảo đảm từ phía Chính phủ.

Từ thực tế này, dự thảo đề xuất việc tổng hợp, cân đối, bố trí phần vốn đầu tư của nhà nước tham gia thực hiện dự án PPP cần theo quy trình riêng. Tuy nhiên, các phương án quy định quy trình riêng của phần vốn này hiện vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều. Chính vì thế, dự thảo đã đề xuất 2 phương án; phương án 1 hình thành Quỹ phát triển dự án PPP với các chức năng bố trí vốn Nhà nước và cấp bảo lãnh; phương án 2 hình thành dòng ngân sách riêng trong kế hoạch đầu tư công trung hạn (tương tự dòng riêng cho Ngân hàng Chính sách Xã hội hiện nay).

Phương án thành lập Quỹ có ưu điểm là tính linh hoạt, chủ động trong quản lý và sử dụng; tính sẵn sàng trong cam kết của Chính phủ từ nguồn vốn góp đến cơ chế bảo lãnh sẽ tăng tính hấp dẫn của dự án, thu hút các nhà đầu tư. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiệu quả của các Quỹ hiện nay còn chưa đáp ứng được như kỳ vọng, dẫn đến còn nhiều nghi ngại về tính khả thi khi lập Quỹ.

Còn phương án 2, có ưu điểm là được đặt trong tổng thể cân đối vốn đầu tư công quốc gia, thế nhưng, trong thực thi có thể vẫn bất cập bởi tính thiếu linh hoạt. Liên quan đến vấn đề này, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng, Điều 79 dự thảo đã đưa ra một số biện pháp bảo đảm như bảo đảm cung ứng ngoại tệ; bảo đảm doanh thu tối thiểu; bảo lãnh của bên thứ ba; bảo đảm cung cấp nguyên liệu.

Tuy nhiên, dự thảo lại chưa có các quy định để phòng ngừa và quản lý rủi ro của các biện pháp bảo đảm đầu tư này. Chính vì thế, khi đề xuất các biện pháp bảo đảm thì phải có báo cáo đánh giá rủi ro đối với ngân sách, trong đó lập các kịch bản rủi ro, khả năng xảy ra rủi ro và thiệt hại tối đa mà ngân sách phải chịu. Thiệt hại tối đa theo kịch bản xấu nhất được gọi là giá trị biện pháp bảo đảm. Báo cáo này, phải được Bộ Tài chính thẩm định, được Bộ Tư pháp cấp ý kiến pháp lý trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định.

Chọn loại bảo lãnh nào?

Một trong các nội dung được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đối với sự chuyển biến trong chính sách PPP của Việt Nam, đó là nội dung bảo lãnh Chính phủ. Bảo lãnh Chính phủ đối với các rủi ro, đặc biệt là rủi ro về doanh thu được xem xét là nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ. Hiện dự thảo đề xuất 2 loại bảo lãnh, gồm bảo lãnh doanh thu tối thiểu và bảo lãnh ngoại tệ.

Bảo lãnh doanh thu tối thiểu là cơ chế chia sẻ doanh thu giữa Nhà nước và nhà đầu tư trong các dự án PPP. Trường hợp này nhà đầu tư xây dựng, vận hành công trình hạ tầng trong một thời gian nhất định; nếu doanh thu thực tế của dự án thấp hơn so với doanh thu dự báo đã được thống nhất trong Hợp đồng PPP, Nhà nước sẽ phải thanh toán phần chênh lệch để bảo đảm doanh thu tối thiểu cho nhà đầu tư. Trường hợp doanh thu thực tế cao hơn so với mức doanh thu dự báo quy định trong Hợp đồng PPP, nhà đầu tư và Nhà nước chia sẻ phần chênh lệch này theo quy định tại Hợp đồng PPP.

Trong bối cảnh thị trường PPP đang phát triển trong giai đoạn đầu như nước ta hiện nay, Điều 80 dự thảo Luật đã đề xuất, Thủ tướng Chính phủ quyết định căn cứ vào tính chất, yêu cầu thực hiện dự án; đồng thời chỉ được bảo lãnh hình thức này với một số điều kiện nhất định như trong 5 năm đầu vận hành công trình dự án, Nhà nước bảo lãnh doanh thu tối thiểu đảm bảo tới 75% doanh thu được dự kiến trong hợp đồng dự án và 65% trong 5 năm kế tiếp…

Đối với hình thức bảo lãnh ngoại tệ, đây là hình thức liên quan đến tỷ giá hối đoái và chuyển đổi ngoại tệ có thể xảy ra đối với dự án có sử dụng ngoại tệ để nhập các yếu tố đầu vào của dự án (trang thiết bị, nguyên vật liệu) hoặc huy động nguồn vốn vay bằng đồng ngoại tệ; trong khi đó doanh thu của dự án bằng đồng nội tệ. Thực hiện theo cơ chế này, Chính phủ sẽ chi trả 100% hoặc một tỷ lệ nhất định đối với những thiệt hại do tỷ giá thay đổi cho nhà đầu tư tư và ngược lại cũng có thể hưởng một phần lợi ích nếu tỷ giá biến động có lợi.

Đại diện Vụ Pháp chế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho rằng, việc áp dụng bảo lãnh ngoại tệ cho các dự án PPP ở nước ta là không phù hợp, do chưa phù hợp quy định tại Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam và do thực tiễn dự trữ ngoại hối tại nước ta. Ngoài ra, việc chuyển đổi ngoại tệ sẽ được nhà đầu tư thực hiện thông qua các ngân hàng thương mại. Trong khi đó, hiện nay thì Chính phủ đang quản lý thị trường ngoại hối một cách tập trung thông qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, do đó nhà đầu tư chỉ yêu cầu Chính phủ chịu trách nhiệm về chuyển đổi thành ngoại tệ nếu ngân hàng không chuyển đổi được bởi các hệ quả điều hành của Chính phủ.

Phạm Hải
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
07:59 19/08/2019
Tạo môi trường thật sự dân chủ trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì mới có những văn bản luật chất lượng, làm động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước. Đó là vấn đề đặt ra trong sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Quay trở lại đầu trang