PHÁP LUẬT
Cập nhật 22:29 | 12/12/2019 (GMT+7)
.

Loại bỏ sử dụng bản sao chứng thực

08:14 | 15/12/2018
Lạm dụng yêu cầu nộp bản sao chứng thực; không tuân thủ đầy đủ về hoạt động chứng thực; dịch sai, dịch không thống nhất; thậm chí chứng thực văn bản do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp nhưng chưa được lãnh sự hóa… là những vấn đề nổi lên sau 3 năm thực hiện Nghị định số 23/2015/NĐ - CP về cấp bản sao từ sổ gốc; chứng thực bản sao từ bản chính; chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, giao dịch.

Tùy tiện đặt thêm yêu cầu

Số liệu thống kê của Bộ Tư pháp cho thấy, từ năm 2015 đến nay, số yêu cầu chứng thực bản sao tiếp tục tăng. Năm 2016 chứng thực hơn 97 triệu bản sao (tăng hơn 18 triệu bản so với năm 2015); năm 2017 chứng thực hơn 116 triệu bản sao (tăng hơn 19 triệu bản so với năm 2016); 6 tháng đầu năm 2018 đã chứng thực hơn 63 triệu bản sao (tăng gần 23% so với cùng kỳ năm 2017). Những con số này cho thấy, một mặt các giao dịch phát sinh trong xã hội ngày càng lớn; nhưng mặt khác lại đặt ra cho các cơ quan quản lý một câu hỏi lớn là làm thế nào để giảm số lượng bản sao, nhất là trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, giảm giấy tờ, giảm đi lại, giảm chi phí cho người dân, tổ chức. Đây là mục tiêu của NĐ 23/2015 và các văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên, trên thực tế chưa có giải pháp cho tình trạng lạm dụng bản sao.


Cục trưởng Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, Bộ Tư pháp Nguyễn Công Khanh nêu thực tế, tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao chứng thực khi thực hiện thủ tục hành chính còn khá phổ biến ở nhiều cấp, nhiều ngành. Đặc biệt, không hiếm cơ quan, tổ chức khi tiếp nhận giải quyết thủ tục hành chính tự đặt ra thời hạn sử dụng bản sao có chứng thực, điển hình là không tiếp nhận bản sao đã được chứng thực quá 6 tháng.

Liên quan đến việc lạm dụng giấy tờ bản sao, Thủ tướng Chính phủ cũng đã có Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 20.6.2014 về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dung yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính. Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Tư pháp thì việc thực hiện chưa triệt để. Theo nhiều chuyên gia pháp lý, để giải quyết tận gốc tình trạng này cần hạn chế, tiến tới bỏ việc sử dụng bản sao chứng thực. Trước mắt, thực hiện thí điểm bỏ bản sao chứng thực trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, trong đó có lĩnh vực hộ tịch.

Thiếu kết nối liên thông

 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP với nhiều quy định mới như quy định mở rộng thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký cho các tổ chức hành nghề công chứng đã giảm tải công việc chứng thực cho các phòng tư pháp và UBND cấp xã, đồng thời tạo thêm một “điểm đến” cho người dân trong việc lựa chọn công chứng, chứng thực; đơn giản hóa về thủ tục hành chính trong giải quyết yêu cầu chứng thực; quy định rõ trách nhiệm của người yêu cầu chứng thực, người thực hiện chứng thực...

Khảo sát của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, Bộ Tư pháp tại một số địa phương cho thấy, không ít cơ quan, tổ chức để tình trạng chứng thực bản sao một cách tràn lan, không theo đúng quy định pháp luật; còn tình trạng cơ quan có thẩm quyền chứng thực thực hiện việc chứng thực chữ ký trên giấy tờ, văn bản có nội dung là hợp đồng, giao dịch hoặc lạm dụng văn bản chứng thực chữ ký, sử dụng văn bản chứng thực chữ ký thay cho bản chính giấy tờ khác…

Trong bối cảnh đó, tình trạng giấy tờ giả đang ngày càng phổ biến, hình thức vô cùng tinh vi đang đặt ra thách thức lớn với người làm công tác chứng thực. Đáng lưu tâm, hiện có nhiều cơ quan tham gia chứng thực nhưng giữa các cơ quan chưa có sự kết nối, liên thông với nhau nên việc kiểm tra các trường hợp có dấu hiệu sai phạm hoặc giấy tờ giả là không thực hiện được. Đại diện Sở Tư pháp Hải Dương - một trong những địa phương xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) trong hoạt động chứng thực hợp đồng giao dịch - chia sẻ, CSDL đã giảm áp lực rất nhiều cho cán bộ tư pháp - hộ tịch nhất là những địa bàn có đông dân cư. Đặc biệt, với sự hỗ trợ của CSDL thì cán bộ tư pháp sẽ kiểm tra đối chiếu dữ liệu trong CSDL, từ đó ngăn chặn được nhiều trường hợp yêu cầu chứng thực trái quy định của pháp luật. Tất nhiên, CSDL này mới chỉ trong phạm vi tỉnh, chưa có kết nối với các đơn vị khác nên vẫn còn nhiều hạn chế. Trước thực tế này, Cục trưởng Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, Bộ Tư pháp Nguyễn Công Khanh cho biết, trong thời gian tới Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chứng thực theo hướng xây dựng phần mềm quản lý dữ liệu chứng thực dùng chung trên phạm vi cả nước và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Cơ sở này sẽ lưu trữ thông tin chứng thực hợp đồng giao dịch, kết nối với các phần mềm chuyên ngành có liên quan như công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm… Từ đó, góp phần bảo đảm sự chính xác khi chứng thực, hạn chế rủi ro, tranh chấp khi chứng thực hợp đồng, giao dịch. 

Đình Khoa
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang