PHÁP LUẬT
Cập nhật 10:08 | 19/07/2018 (GMT+7)
.
Bạn đọc viết

Lợi bất cập hại

09:29 | 13/07/2018
Sự chồng chéo giữa các văn bản đã khiến nhiều quy định được cho là cắt gọn thủ tục, giấy tờ, giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp (DN) nhưng thực tế lại thêm giấy tờ, phát sinh thủ tục.

Theo quy định tại Điều 35, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16.2.2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch thì người yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch và với quy định như trên nên thành phần hồ sơ chứng thực hợp đồng rất đơn giản. Nghĩa là đôi bên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về năng lực hành vi dân sự cũng như nội dung hợp đồng, giao dịch. Tuy nhiên, để xác nhận năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch…, thì phải xem xét đến nội dung của hợp đồng giao dịch, đặc biệt đối với hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất. Ngoài ra, để xác định hợp đồng, giao dịch có đúng quy định hay không, bắt buộc cơ quan thực hiện chứng thực phải yêu cầu các bên thực hiện hợp đồng, giao dịch bổ sung các loại giấy tờ có liên quan như: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, giấy chứng tử, giấy khai sinh, giấy tờ chứng minh mối quan hệ của những người được hưởng di sản… Như vậy, các giấy tờ và thủ tục này lại phát sinh trong quá trình thực hiện nghiệp vụ chuyên môn, nhưng lại không được công bố công khai trong bộ thủ tục hành chính được quy định tại Nghị định 23/2015.

Hoặc, Điểm g, Khoản 1, Điều 10 Thông tư số 15/2014/TT- BCA của Bộ Công an quy định, giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải được công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực. Quy định này thời gian qua đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện chuyển quyền sở hữu xe của cá nhân; đồng thời tạo điều kiện cho liên ngành quản lý phương tiện cá nhân đã giao dịch mua bán.

Tuy nhiên, tại Khoản 4, Điều 24 Nghị định số 23/2015 quy định, giấy tờ, văn bản có nội dung là hợp đồng, giao dịch đều phải chứng thực chữ ký. Trong khi đó, giấy bán, tặng, cho xe của cá nhân thực chất là hợp đồng mua bán, vì vậy, cần có hợp đồng, phải được công chứng, chứng thực theo quy định của Luật Công chứng và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Chính vì thế, hiện nay người dân khi liên hệ với cơ quan công an làm thủ tục đăng ký sang tên thì được hướng dẫn làm giấy bán, cho, tặng, xe của cá nhân theo mẫu, sau đó được hướng dẫn về UBND xã, phường, thị trấn chứng thực đối với chữ ký của người bán, cho, tặng, cho xe theo quy định của pháp luật về chứng thực. Giấy tờ rườm rà nên không khuyến khích người dân làm thủ tục, hậu quả là Nhà nước không biết phương tiện đã mua bán, trao đổi thế nào; khi xảy ra sự cố pháp lý liên quan như tai nạn giao thông, trộm cắp… thì cũng không biết ai là chủ nhân thực sự của phương tiện. 

Phạm Hải
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
20:53 10/04/2017
Toàn quốc phấn đấu không phát sinh tụ điểm phức tạp về ma túy; mỗi năm triệt xóa từ 5 - 10% số điểm, tụ điểm và mỗi huyện, quận, thị xã, thành phố (trực thuộc tỉnh) xây dựng được 1 mô hình điểm về phòng, chống ma túy tại xã, phường, thị trấn... Đây là mục tiêu Chương trình phòng, chống ma túy đến năm 2020 vừa được Thủ tướng phê duyệt.
Quay trở lại đầu trang