PHÁP LUẬT
Cập nhật 23:29 | 19/07/2018 (GMT+7)
.

Cơ chế nào để thực thi thỏa thuận?

08:08 | 30/06/2018
Cách tiếp cận mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 cơ bản giải quyết được những vướng mắc, khó khăn trong xác lập, thực hiện biện pháp bảo đảm. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng vẫn còn một số rào cản do các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) điều chỉnh về biện pháp bảo đảm còn thiếu; một số quy định không có hướng dẫn cụ thể; các văn bản QPPL có liên quan còn mâu thuẫn, thiếu sự thống nhất…

Nhiều quy định chưa có hướng dẫn

Phó Cục trưởng Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và giám sát việc thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp Hồ Quang Huy nhận định, Bộ luật Dân sự năm 2015, có hiệu lực từ ngày 1.1.2017 với nhiều nội dung mới, tiệm cận với những nguyên lý chung của pháp luật dân sự, trong đó bao gồm các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng thời gian qua cho thấy vẫn còn một số vấn đề liên quan đến chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ giao tài sản còn khó khăn, vướng mắc…

Cụ thể, liên quan đến vấn đề giao tài sản bảo đảm, để xử lý “người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản cho bên nhận bảo đảm để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp tại Điều 299 của Bộ luật này. Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu tòa án giải quyết (Điều 301). Như vậy, xét ở góc độ hợp đồng, trong trường hợp bên bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản với thời gian nhanh nhất, ít tốn kém nhất. Hơn nữa, xử lý tài sản bảo đảm là một trong những “trụ cột” của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Trong khi đó, để có thể thực hiện được thỏa thuận hợp pháp về xử lý tài sản bảo đảm trên thực tế lại phụ thuộc nhiều vào thiện chí, tự nguyện của bên bảo đảm (chủ sở hữu tài sản), từ giao tài sản bảo đảm để xử lý, xác định phương thức xử lý, giá bán tài sản bảo đảm để xử lý… Hệ quả tất yếu của tình trạng trên là việc xử lý tài sản bảo đảm và khả năng hiện thực hóa các thỏa thuận hợp pháp trở nên “bấp bênh”.

Công chứng viên Tuấn Đạo Thanh- Phòng Công chứng số 1, TP Hà Nội nêu thực tế: Mặc dù hệ thống văn bản QPPL đối với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tương đối đầy đủ, song do các văn bản QPPL điều chỉnh về biện pháp bảo đảm còn thiếu, chưa thống nhất; một số quy định còn mâu thuẫn, một số quy định lại không có hướng dẫn cụ thể; sự khác biệt về nhận thức của các cơ quan hữu quan… dẫn đến việc triển khai gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Đơn cử, hiện mới chỉ có Nghị định số 102/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm được ban hành thay thế cho Nghị định số 83/2010/ NĐ- CP của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo nghị định số 05/2012/NĐ- CP của Chính phủ.

Trong khi đó, chưa ban hành được nghị định mới thay thế Nghị định số 11/2012/NĐ - CP của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Bên cạnh đó, một số quy định còn mâu thuẫn, đơn cử như cách thức xác định thành viên hộ gia đình. Từ nội dung quy định tại các Điều 101, 102, 103 và Điều 212 Bộ luật Dân sự 2015 có thể thấy, về nguyên tắc, hộ gia đình sẽ phải là tổ chức có nhiều thành viên. Thuật ngữ pháp lý “hộ gia đình” được sử dụng tại nhiều đạo luật chuyên ngành khác nhau, nhưng trong thực tế công chứng viên chỉ có thể xác định số lượng thành viên hộ gia đình căn cứ theo quy định của pháp luật về đất đai…

Quyền thu giữ tài sản

Từ những bất cập nêu trên cho thấy, một số chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chưa đi vào thực tiễn. Vì vậy, để khắc phục tình trạng này, tại tọa đàm đánh giá việc thực hiện quy định pháp luật hiện hành về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ do Ngân hàng Thế giới tổ chức mới đây, nhiều ý kiến cho rằng, cần tiếp tục có những đánh giá, phân tích nhằm góp phần hình thành cơ chế pháp lý điều chỉnh phù hợp với đời sống dân sự, kinh doanh, thương mại. Cụ thể, về quyền truy đòi trong Bộ luật Dân sự năm 2015 vẫn chưa đáp ứng được “kỳ vọng” của hoạt động xử lý tài sản bảo đảm trong giai đoạn hiện nay.

Theo TS. Trần Du Lịch thì “điều kiện tiên quyết để giải quyết được căn bản nợ xấu là tháo gỡ những rào cản trong xử lý tài sản bảo đảm, đồng thời hình thành thị trường mua bán nợ. Để làm được điều này, cần có một đạo luật để giải quyết tất cả những rào cản đang tồn tại trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm thì mới xử lý được căn bản vấn đề nợ xấu”. Nếu tiếp tục duy trì cơ chế xử lý như hiện nay thì thời gian xử lý tài sản bảo đảm sẽ kéo dài, các thỏa thuận trong hợp đồng không được thực hiện nghiêm túc. Vì vậy, xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận hợp pháp của các bên trong hợp đồng, cần đề xuất giải pháp bên nhận bảo đảm được quyền thu giữ tài sản bảo đảm, đây cũng chính là nhằm khắc phục bất cập nêu trên, đồng thời cũng là giải pháp phù hợp với nguyên tắc trong giao dịch bảo đảm hiện đại.

Phó Cục trưởng Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và giám sát việc thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp Hồ Quang Huy cho rằng, trong điều kiện hiện nay của Việt Nam khi mà các kênh thu hút tín dụng cho doanh nghiệp, phát triển kinh tế vẫn còn hạn hẹp, trong khi nhu cầu tín dụng ngày càng lớn thì các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ sẽ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc mở rộng tín dụng cho hoạt động của các doanh nghiệp, cũng như cho cả nền kinh tế. Vì vậy, cần xem xét ban hành các đạo luật để quản lý thống nhất về biện pháp bảo đảm...

Bảo Hân
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
20:53 10/04/2017
Toàn quốc phấn đấu không phát sinh tụ điểm phức tạp về ma túy; mỗi năm triệt xóa từ 5 - 10% số điểm, tụ điểm và mỗi huyện, quận, thị xã, thành phố (trực thuộc tỉnh) xây dựng được 1 mô hình điểm về phòng, chống ma túy tại xã, phường, thị trấn... Đây là mục tiêu Chương trình phòng, chống ma túy đến năm 2020 vừa được Thủ tướng phê duyệt.
Quay trở lại đầu trang