PHÁP LUẬT
Cập nhật 23:59 | 23/11/2017 (GMT+7)
.
Thi hành án trong các vụ việc phá sản

Sớm ban hành thông tư

08:23 | 11/11/2017
Để tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Nghị quyết 19/2017 của Chính phủ đã đề ra mục tiêu nâng cao tỷ lệ phục hồi doanh nghiệp và rút ngắn thời gian giải quyết phá sản doanh nghiệp từ 60 tháng xuống dưới 30 tháng trong năm 2017 và dưới 24 tháng đến năm 2020. Tuy nhiên, khó có thể hoàn thành mục tiêu này khi vẫn còn nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Thứ hạng khiêm tốn

Sau khi có Luật Phá sản năm 2014, việc giải quyết các việc phá sản đạt được nhiều kết quả tích cực. Cụ thể, năm 2013 các cơ quan THADS chỉ thụ lý 11 việc với số tiền trên 6,5 tỷ đồng, tuy nhiên sau khi Luật có hiệu lực, năm 2015, các cơ quan THADS thụ lý 42 việc với số tiền là trên 305 tỷ đồng, 6 tháng đầu năm 2017 là 147 việc với số tiền trên 236 tỷ đồng.

Một hệ thống phá sản thiết thực sẽ có chức năng như “bộ lọc” bảo đảm việc duy trì các công ty có hiệu quả kinh tế và tái phân phối nguồn lực đối với các công ty hoạt động thiếu hiệu quả. Thủ tục phá sản nhanh và tiết kiệm sẽ mang các hoạt động đầu tư kinh doanh sớm trở lại bình thường.

Tuy nhiên, theo Báo cáo năm 2016 của Ngân hàng Thế giới thì nhiều quốc gia trong khu vực có thứ hạng cao và còn giữ khoảng cách khá xa so với Việt Nam trong xếp hạng thông thoáng môi trường kinh doanh như Singapore (2/190), Malaysia (23/190), Thái Lan (46/190)… Nhiều lĩnh vực cải thiện môi trường kinh doanh, trong đó có thực thi phán quyết của toà án và giải quyết phá sản còn có thứ hạng khá khiêm tốn. Việc bảo đảm thực thi hợp đồng thông qua giải quyết tranh chấp của các tòa án tại Việt Nam là 400 ngày với chi phí 29% giá trị tài sản tranh chấp, xếp hạng 69/190 (năm 2016 xếp hạng 68).  Trong 400 ngày giải quyết tranh chấp hợp đồng, thụ lý của tòa án là 50 ngày, xét xử và phán quyết là 200 ngày và thực thi phán quyết của toà án là 150 ngày. Trong 29% chi phí, chi phí luật sư chiếm 21%, án phí chiếm 5% và phí thi hành bản án là 3%. Thời gian giải quyết phá sản kéo dài tới 60 tháng, chi phí phá sản khá lớn, chiếm 14,5% giá trị tài sản và đặc biệt là hoạt động kinh doanh sau phá sản hầu như không thể phục hồi, các tài sản thanh lý đều bị bán từng phần mà không duy trì được mục đích sử dụng ban đầu, và cuối cùng là tỷ lệ thu hồi tài sản của chủ nợ là rất thấp, 21.6 cent/1 USD.

Để tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Nghị quyết 19/2017 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020, đề ra mục tiêu nâng cao tỷ lệ phục hồi doanh nghiệp và rút ngắn thời gian giải quyết phá sản doanh nghiệp từ 60 tháng xuống dưới 30 tháng trong năm 2017 và dưới 24 tháng đến năm 2020. Liệu hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự có hoàn thành được mục tiêu khi mà thực tiễn pháp luật còn nhiều vướng mắc?

Thiếu thống nhất

Ngày 19.6.2014, QH đã thông qua Luật Phá sản, có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2015, thay thế Luật Phá sản năm 2004 với nhiều thay đổi về cơ chế phá sản, đồng thời làm rõ chế độ trách nhiệm, nâng cao tính chuyên nghiệp của cá nhân, doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản, chế định quản tài viên, chấp hành viên… Đặc biệt, Luật Phá sản năm 2014 đã dành 1 chương (Chương XII) quy định về thi hành quyết định tuyên bố phá sản, tạo điều kiện cho công tác thi hành các quyết định phá sản được thuận lợi. Nhìn chung, những điểm mới này đã giúp cho việc xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản được nhanh gọn hơn, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các chủ nợ.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành án phá sản thời gian qua cũng cho thấy nhiều khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là sự chưa tương thích giữa các quy định của Luật Phá sản năm 2014 và Luật Thi hành án dân sự (THADS) năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Điển hình như quy định về tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, thực hiện nghĩa vụ về tài sản giữa Khoản 1, Điều 41, Luật Phá sản và Khoản 2, Điều 49, Luật THADS; quy định về thời hạn ra quyết định thi hành án về phá sản giữa Điểm e, Khoản 2, Điều 36, Luật THADS và Khoản 1, Điều 120, Luật Phá sản; quy định về quyết định đình chỉ và kết thúc thi hành quyết định tuyên bố phá sản giữa Điều 17, 126 Luật Phá sản và  Điều 50 Luật THADS.

Ngoài ra, một số quy định của Luật Phá sản năm 2014 cũng chưa được làm rõ gây khó khăn cho chấp hành viên trong quá trình thi hành quyết định tuyên bố phá sản. Cụ thể như Luật chưa xác định rõ trách nhiệm của cơ quan THADS ở giai đoạn quản tài viên thực hiện quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp phá sản; về cơ chế phối hợp và giám sát hoạt động của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; về định giá, đấu giá tài sản; về thu hồi nợ của doanh nghiệp phá sản ở nhiều địa phương; về phân chia tài sản sau khi bán đấu giá tài sản thanh lý…

Để góp phần rút ngắn thời gian giải quyết phá sản doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 19/2017, đồng thời tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn nêu trên, Bộ Tư pháp đang chủ trì, phối hợp với Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Tòa án Nhân dân Tối cao tổng kết thực tiễn và triển khai xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện một số thủ tục thi hành quyết định của Tòa án về giải quyết phá sản.

Nguyễn Xuân
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
20:53 10/04/2017
Toàn quốc phấn đấu không phát sinh tụ điểm phức tạp về ma túy; mỗi năm triệt xóa từ 5 - 10% số điểm, tụ điểm và mỗi huyện, quận, thị xã, thành phố (trực thuộc tỉnh) xây dựng được 1 mô hình điểm về phòng, chống ma túy tại xã, phường, thị trấn... Đây là mục tiêu Chương trình phòng, chống ma túy đến năm 2020 vừa được Thủ tướng phê duyệt.
Quay trở lại đầu trang