PHÁP LUẬT
Cập nhật 13:32 | 30/08/2014 (GMT+7)
.
Dự thảo Luật Hộ tịch

Cần quy định rõ việc sử dụng con dấu của Hộ tịch viên

08:32 | 28/02/2013
Hộ tịch viên là một chế định mới tại dự thảo Luật Hộ tịch. Không giống Công chứng viên, Điều tra viên hay Chấp hành viên, Hộ tịch viên theo dự thảo Luật Hộ tịch là công chức cấp xã, được bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ đăng ký hộ tịch giúp UBND cấp xã quản lý công tác hộ tịch. Chính vì lẽ đó, những quy định liên quan đến việc sử dụng con dấu của Hộ tịch viên nhận được sự quan tâm của nhiều người.

Dự thảo Luật Hộ tịch quy định rất nhiều nhiệm vụ của Hộ tịch viên khi được bổ nhiệm, chẳng hạn thực hiện đăng ký và quản lý hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch; thông báo kịp thời, chính xác sự kiện hộ tịch mình đã đăng ký cho Hộ tịch viên nơi quản lý hộ tịch gốc của cá nhân để ghi vào Sổ bộ hộ tịch; cấp giấy xác nhận đăng ký hộ tịch cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khi có yêu cầu; tổng hợp tình hình, thống kê và báo cáo số liệu hộ tịch theo quy định; tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch; tổ chức đăng ký lưu động đối với các sự kiện hộ tịch phát sinh tại các vùng sâu, vùng xa hoặc địa bàn đi lại khó khăn, bảo đảm tất cả mọi sự kiện hộ tịch phát sinh trên địa bàn đều được đăng ký… Để thực hiện những nhiệm vụ do luật định, hộ tịch viên được sử dụng con dấu của UBND cấp xã. Tuy nhiên, việc sử dụng con dấu của UBND cấp xã như thế nào; Hộ tịch viên có thẩm quyền sử dụng con dấu ở mức độ nào thì dự thảo chưa quy định rõ.

Thực tế, đã có nhiều quy định liên quan đến việc sử dụng con dấu, nhưng nếu ởã góc độ triển khai văn bản QPPL thì đây được coi là những quy định “khó thi hành”, “khó vận dụng”. Cụ thể, theo quy định tại Điểm C, Điểm D, Mục 2, Điều 25 Nghị định số 110/2004/NĐ-CP về công tác văn thư quy định: “con dấu chỉ được đóng lên các văn bản, giấy tờ sau khi các văn bản, giấy tờ đó đã có chữ ký của người có thẩm quyền” “không được đóng dấu khống chỉ”. Như vậy có thể hiểu rằng, bản thân con dấu chưa phản ánh được giá trị pháp lý của nó và của văn bản mà phải được đóng lên các văn bản, giấy tờ sau khi các văn bản, giấy tờ đó đã “có chữ ký của người có thẩm quyền” thì con dấu sử dụng mới hợp lệ, có giá trị pháp lý. Nếu một văn bản được đóng dấu không có chữ ký của người có thẩm quyền, hay người không đúng, không có thẩm quyền hoặc văn bản đóng dấu khống chỉ thì các văn bản đó không có giá trị pháp lý. Chiếu theo những lập luận này, dự thảo Luật Hộ tịch chưa xác định được Hộ tịch viên là người có thẩm quyền hay không và được sử dụng con dấu với mức độ như thế nào? Theo pháp luật hiện hành, chỉ có những người có thẩm quyền như Chủ tịch, các Phó chủ tịch UBND cấp xã mới là những người có thẩm quyền ký tên và đóng dấu của UBND cấp xã.

Mặt khác, dự thảo Luật Hộ tịch có nhiều điều luật quy định việc sử dụng con dấu của Hộ tịch viên, chẳng hạn: người đi đăng ký khai sinh và Hộ tịch viên phải ký vào Sổ bộ hộ tịch; hộ tịch viên ký, đóng dấu và cấp cho người đi khai sinh Sổ hộ tịch cá nhân… (Khoản 2, Điều 21); hộ tịch viên ký, đóng dấu và cấp Sổ hộ tịch cá nhân cho người có yêu cầu (Khoản 3, Điều 79); Hộ tịch viên ghi việc đăng ký kết hôn vào Sổ bộ hộ tịch, Sổ hộ tịch cá nhân của bên nam và bên nữ, cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử (nếu có), ký tên, đóng dấu vào Sổ hộ tịch cá nhân của các bên (Khoản 4, Điều 26)…  Nhưng, tại Khoản 1, Điều 13 dự thảo Luật Hộ tịch quy định “hộ tịch viên là công chức cấp xã” do vậy Hộ tịch viên không thể sử dụng con dấu của UBND xã như Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND cấp xã theo thẩm quyền quy định.

Một vấn đề khác liên quan đến chế định là hiện nay chúng ta đang thực hiện mô hình cải cách hành chính một cửa liên thông, do vậy đối với UBND cấp xã, mọi văn bản giấy tờ giải quyết cho công dân do UBND cấp xã ban hành đều phải thông qua bộ phận “một cửa” và con dấu do công chức Văn phòng – thống kê quản lý thực hiện việc đóng dấu theo quy định pháp luật. Do vậy, việc quy định Hộ tịch viên được quyền sử dụng con dấu là chưa phù hợp với quy định về cải cách thủ tục hành chính hiện hành.

Thiết nghĩ, để hoàn chỉnh dự thảo Luật Hộ tịch nên quy định cụ thể việc Hộ tịch viên được sử dụng con dấu UBND cấp xã khi tác nghiệp để tránh phải chờ đợi hướng dẫn thi hành.

Nguyễn Thanh Xuân
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
08:36 05/10/2013
Phí bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là khoản tiền tổ chức tham gia BHTG phải nộp cho tổ chức BHTG để bảo hiểm cho tiền gửi của người được BHTG tại tổ chức tham gia BHTG. Đây là loại phí có tính chất bắt buộc đối với tổ chức tham gia BHTG để thực hiện chính sách BHTG. Mục tiêu của việc thu phí BHTG là nhằm hình thành nguồn quỹ BHTG có sẵn để xử lý đổ vỡ ngân hàng và thực hiện mục tiêu bảo vệ người gửi tiền.
Quay trở lại đầu trang