Vấn đề trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân lại một lần nữa được hâm nóng trong quá trình sửa đổi Bộ luật Hình sự (BLHS). Xung quanh vấn đề này, tuy còn khá nhiều ý kiến khác nhau trong cách tiếp cận, song đa phần đều cho rằng cần xác định rõ trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong lần sửa đổi BLHS này.
Bỏ lọt tội phạm
Trong nền kinh tế thị trường không ít tổ chức kinh tế (pháp nhân) vì chạy theo lợi nhuận cục bộ đã có sự thông đồng thực hiện nhiều hành vi trái pháp luật mang tính chất tội phạm; đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế như trốn thuế, kinh doanh trái phép, đầu cơ, buôn lậu hoặc vì lợi ích cục bộ đã không thực hiện các biện pháp mà pháp luật đòi hỏi để bảo vệ môi trường, gây hậu quả nghiêm trọng. Việc núp bóng dưới danh nghĩa pháp nhân để phạm tội ngày càng tăng, tính chất nguy hiểm ngày càng cao. Các hành vi vi phạm pháp luật mang tính chất tội phạm do pháp nhân thực hiện trong thời gian qua diễn ra ngày càng tăng như buôn lậu, buôn bán hàng cấm, gian lận thương mại, kinh doanh trái phép, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán… Đa số những trường hợp trên là do cơ quan lãnh đạo, người đại diện của pháp nhân thực hiện vì lợi ích của pháp nhân hoặc trong khuôn khổ hoạt động của pháp nhân với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, có tổ chức cao và có những trường hợp mang tính quốc tế. Phó chủ nhiệm Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Trịnh Quốc Toàn cho rằng, nếu chỉ xử lý về hình sự đối với người đại diện, những người được ủy quyền hoặc những nhân viên thừa hành thực hiện thì rõ ràng là bỏ lọt tội phạm, trái với nguyên tắc công bằng trong BLHS. Đã đến lúc vấn đề TNHS của pháp nhân - tổ chức phải được giải quyết về mặt hình sự một cách trực tiếp.
GS - TSKH Lê Văn Cảm đề xuất 2 phương án; phương án 1, bổ sung một chương mới hoàn toàn độc lập với tên gọi Trách nhiệm hình sự của pháp nhân, trong đó quy định toàn bộ các quy phạm của Phần chung có liên quan đến vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân (chủ thể; cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự của pháp nhân; hệ thống hình phạt được áp dụng…). Phương án 2, không xây dựng thành một chương độc lập mà chỉ bổ sung vào Chương về Trách nhiệm hình sự chung trên các quy phạm mới đề cập tới như vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân; hình phạt; miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt.
Giới hạn trách nhiệm hình sự của pháp nhân
Liên quan đến chế định TNHS của pháp nhân là một chuỗi các vấn đề cần được quy định từ chủ thể chịu trách nhiệm, tội phạm cụ thể có thể quy kết, điều kiện quy kết trách nhiệm đến hệ thống hình phạt áp dụng. Do đó, việc bổ sung chế định này vào BLHS sẽ làm thay đổi hoàn toàn các quan niệm trước đây về cơ sở TNHS, năng lực trách nhiệm hình sự, lỗi, hình phạt. Do đó, vấn đề này cần được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn để có phương án sửa đổi, bổ sung thích hợp.
Theo gợi ý từ nhiều chuyên gia thì việc xác định chủ thể của trách nhiệm hình sự pháp nhân chỉ nên giới hạn đối với các tổ chức có tư cách pháp nhân (loại trừ Nhà nước), vì việc TNHS là không thể đặt ra (Nhà nước với vai trò là bảo vệ lợi ích chung, có chủ quyền và độc quyền về chính sách hình sự, vì vậy Nhà nước không thể tự mình trừng trị mình). Việc đòi hỏi tư cách pháp nhân đối với các thực thể trên là cần thiết vì khi có tư cách pháp nhân thì các thực thể này mới có sự tồn tại của chính nó bằng việc hưởng thụ các quyền, gánh vác các nghĩa vụ pháp lý nhất định cũng như phải chịu TNHS và việc áp dụng hình phạt mới có hiệu quả. Từ góc độ tiếp cận này, các chủ thể chịu TNHS của pháp nhân bao gồm: các cơ quan của Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, các cơ quan hành chính - sự nghiệp, các đoàn thể, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổng công ty, công ty, xí nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị - xã hội được thành lập phục vụ lợi ích công cộng. Trong trường hợp, cơ quan hoặc người lãnh đạo cụ thể, đại diện của pháp nhân, người chỉ đạo hoặc người được ủy quyền thực hiện các chính sách của pháp nhân được thực hiện tội phạm vì lợi ích hoặc nhân danh pháp nhân thì tội phạm này được coi là do chính pháp nhân thực hiện. Từ đó, điều kiện để truy cứu TNHS của pháp nhân là có một cá nhân thực hiện tội phạm trong khuôn khổ hoạt động hoặc vì lợi ích của pháp nhân. Đối với việc xác định hệ thống hình phạt liên quan đến TNHS của pháp nhân thì có thể thấy, bên cạnh việc cần quy định một hệ thống hình phạt riêng bao gồm hình phạt chính, bổ sung thì cần chú trọng hình phạt tiền.
Trách nhiệm hình sự của pháp nhân không phải là một vấn đề mới trong lịch sử lập pháp của Việt Nam. Bởi vấn đề này đã từng đề cập tới trong các lần sửa đổi, bổ sung Luật Hình sự trước đó, nhưng các nhà làm luật chưa giải quyết được những xung đột pháp luật (thực tế là chưa thuyết phục được cơ quan lập pháp). Và bộ luật Hình sự không phải là chìa khóa vạn năng, nó chỉ là một công cụ pháp lý hạn chế tình hình tội phạm để có thể giải quyết tất cả vấn đề liên quan đến đấu tranh phòng chống tội phạm. Chính vì lẽ đó, cần có cái nhìn toàn diện hơn, trong đó chú trọng đến việc tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm; đồng thời có sự nhìn nhận, tham khảo kinh nghiệm lập pháp cũng như thực thi chính sách hình sự của các nước. Bởi có rất nhiều vấn đề không nằm trong quy định của pháp luật mà trong năng lực của cơ quan tiến hành tố tụng. Chẳng hạn, trách nhiệm chứng minh nguồn gốc tài sản do phạm tội mà có (hoặc các lợi ích khác từ hành vi phạm tội mà có) thuộc về các cơ quan tố tụng, song câu hỏi này lại được đá sang Tòa án và Tòa án với việc xét xử tại phiên tòa đã đá lại câu hỏi này cho bị cáo dưới hình thức là “những câu hỏi tại phiên tòa”.