Qua 10 năm thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC) trong các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2001- 2010 mà trọng tâm là thực hiện Đề án 30 (2007 - 2010), nước ta đã có những cải cách quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực thuế, hải quan. Tuy nhiên, để người dân và doanh nghiệp thuận tiện hơn nữa trong sản xuất, kinh doanh thì việc sơ đồ hóa các TTHC vào thời điểm này là hết sức cần thiết.
Thực trạng triển khai thủ tục hành chính
Thực tiễn triển khai Đề án cho thấy, một số TTHC còn nhiều khâu, nhiều loại giấy tờ không hợp lý, chồng chéo, dễ bị lợi dụng, lạm dụng đã được rà soát để loại bỏ hoặc sửa đổi, tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Trong quá trình cải cách, nhiều TTHC mới được ban hành theo hướng công khai, minh bạch, đơn giản thuận lợi hướng tới xây dựng một nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, vừa tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, vừa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, góp phần quan trọng vào phát triển KT - XH. Đồng thời, đội ngũ, cán bộ công chức, viên chức đã có bước trưởng thành cả về trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn một số vấn đề còn tồn tại cần được giải quyết trong lộ trình cải cách. Theo Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính Ngô Hải Phan, trong một số lĩnh vực, thủ tục hành chính vẫn còn bất cập, chồng chéo không hợp lý; vẫn còn tình trạng cán bộ, công chức, viên chức giải quyết công việc chậm trễ, cửa quyền, sách nhiễu, tiêu cực. Đây là rào cản cho quá trình đơn giản hóa thủ tục hành chính cũng như gây khó cho người dân và doanh nghiệp. Điều đáng quan tâm hiện nay là vẫn chưa có chế tài thực sự hữu hiệu nào đối với cán bộ có hành vi tiêu cực. Bên cạnh đó, người dân, doanh nghiệp vẫn chưa chủ động đấu tranh với các hành vi tiêu cực mà vô tình tiếp tay cho hành vi tiêu cực của các cán bộ có thẩm quyền chỉ vì mong muốn TTHC được giải quyết đơn giản, nhanh gọn và chấp nhận các khoản chi phí bất hợp lý.
Thực tế cho thấy, hiện nay mô hình cải cách TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong một số lĩnh vực còn lúng túng, hình thức và chưa thực sự hợp lý. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong một số trường hợp thiếu nhất quán, thiếu đồng bộ. Chất lượng ban hành văn bản QPPL chưa cao, vẫn còn một số quy định chưa sát thực tế, chưa cụ thể. Việc hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết TTHC còn hạn chế. Đây đang là rào cản đối với người dân và doanh nghiệp khi thực hiện TTHC, tốn nhiều thời gian, chi phí, làm chậm hoặc mất cơ hội đầu tư, kinh doanh, làm giảm khả năng cạnh tranh.
Mỗi nơi thực hiện một kiểu
Qua thực tiễn triển khai quy trình tiếp cận đất đai đầu tư ở một số địa phương, mỗi nơi thực hiện một kiểu, không có sự thống nhất. Ở Bắc Ninh (năm 2008) để tiếp cận đất đai đầu tư, doanh nghiệp cần phải tuân thủ theo một trình tự như khảo sát địa điểm, sau đó qua khâu chứng chỉ quy hoạch, đánh giá tác động môi trường, thiết kế cơ sở, giấy chứng nhận đầu tư, giao đất, định giá thuê đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép xây dựng. Tại Thừa Thiên Huế (năm 2008), quy trình đó được thực hiện như sau: chấp thuận chủ trương nghiên cứu dự án, chứng chỉ quy hoạch, chấp thuận cho phép triển khai dự án, đánh gia tác động môi trường, thiết kế cơ sở, giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép khai thác khoáng sản, thẩm định nhu cầu sử dụng đất, giao thuê đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép xây dựng. Trong khi đó, ở Bình Định (năm 2009), thì thủ tục đó lại được thực hiện như sau: chấp thuận chủ trương, chấp thuận địa điểm, lập quy hoạch chi tiết ( tỷ lệ 1/500), thiết kế cơ sở, đánh giá tác động môi trường – đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường, cấp giấy chứng nhận đầu tư, thu hồi, thuê đất ( trích lục, trích đo đạc bản đồ địa chính khu đất, hợp đồng thuê đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), cấp giấy phép xây dựng công trình.
Như vậy, nhìn vào trình tự thực hiện các bước thủ tục hành chính ở các địa phương có thể có sự khác nhau, chưa có một bộ công cụ chuẩn. Do đó, các nhà đầu tư cần phải căn cứ vào quy định cụ thể của từng địa phương để thực hiện các bước thủ tục cho phù hợp, giảm được chi phí về thời gian và tài chính trong quá trình xin được giấy phép xây dựng.
Trước những bất cập của quá trình thực hiện TTHC gây khó cho doanh nghiệp và người dân, việc sơ đồ hóa TTHC là điều hết sức cần thiết. Lý giải về vấn đề này, Giám đốc Công ty Tư vấn Quản lý MCG Phạm Ngọc Linh cho rằng, việc sơ đồ hóa TTHC là công cụ hữu ích trong cải cách hành chính vì điều này giúp hỗ trợ phân tích vấn đề một cách có hệ thống, hỗ trợ xác định những điểm chưa hiệu quả và chưa hợp lý, logic trong quy trình; hỗ trợ công tác truyền thông nâng cao nhận thức của đối tượng tuân thủ.
Về vấn đề này, Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính Ngô Hải Phan cho rằng, cần phải xây dựng bộ công cụ kiểm soát quy định về TTHC từ khâu dự thảo đến khâu thực thi; hướng dẫn sơ đồ hóa quy trình thực hiện; biểu mẫu đánh giá tác động; biểu mẫu rà soát; biểu mẫu tính toán chi phí tuân thủ.
Nghị quyết của Chính phủ nêu rõ mục tiêu trong giai đoạn 2011 - 2015, thực hiện cải cách thủ tục hành chính để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, giải phóng mọi nguồn lực của xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm điều kiện cho nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, bền vững. Trong 24 nhóm TTHC, quy định liên quan đến những vấn đề như mã số công dân; đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hoạt động doanh nghiệp thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện; lĩnh vực chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư xây dựng và vận hành khai thác nhà máy điện… mục tiêu trong năm 2012 là kịp thời phát hiện, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc hủy bỏ quy định, thủ tục hành chính không cần thiết, không phù hợp, không đáp ứng được các nguyên tắc về quy định và thực hiện TTHC bảo đảm đơn giản hóa TTHC và các quy định có liên quan tương ứng với cắt giảm ít nhất 30% chi phí tuân thủ TTHC.
Sơ đồ hóa TTHC bằng cách nào?
Giám đốc Công ty Tư vấn Quản lý MCG Phạm Ngọc Linh đã chỉ ra 3 bước để sơ đồ hóa TTHC. Bước 1: cần phải thống kê VBPL có liên quan, trong đó, cần quan tâm đến hệ thống các văn bản luật, các văn bản dưới luật điều chỉnh về vấn đề liên quan đến TTHC. Bước 2, rà soát TTHC, quy định có liên quan trong VBPL và lập bảng phân tích sơ bộ, nêu rõ yêu cầu về hồ sơ, điều kiện của TTHC; thời gian thực hiện TTHC. Bước 3, kiểm tra thực tế: khảo sát tại các cơ quan nhà nước, tại các doanh nghiệp và người dân. Đây được đánh giá là nguồn tư liệu phong phú để đóng góp cho quá trình sơ đồ hóa TTHC chính xác hơn, hiệu quả hơn.
Việc sơ đồ hóa TTHC là bước quan trọng, giúp xâu chuỗi các TTHC đơn lẻ thành hệ thống và có thể giúp phát hiện nhanh các vấn đề chính. Tuy nhiên, đối với 63 tỉnh, thành phố thì việc sơ đồ hóa phải căn cứ vào từng nhóm vấn đề, được xâu chuỗi theo thứ tự thực hiện tại từng địa phương. Để đạt được kết quả rà soát cao, rất cần sự quyết tâm của tất cả các bộ, ngành, địa phương liên quan, đặc biệt là người đứng đầu các cơ quan hành chính. Chung tay cải cách hành chính là thông điệp mà Chính phủ muốn gửi tới tất cả các chủ thể liên quan, trong đó có vai trò rất lớn của người dân và doanh nghiệp.