PHÁP LUẬT
Cập nhật 19:59 | 30/07/2014 (GMT+7)
.

Điều 474 và 476 của Bộ luật Dân sự cần phải được điều chỉnh

17/04/2007
Bộ luật Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 14.6.2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2006. Tuy nhiên chỉ sau một thời gian thực hiện đã có nhiều ý kiến đề nghị cần xem xét lại các quy định tại khoản 5 Điều 474 và Điều 476 của Bộ luật vì cho rằng, nội dung về lãi suất của các quy định này được áp dụng đối với hợp đồng vay tài sản là không hợp lý, gây nhiều khó khăn, vướng mắc cho việc huy động và cho vay vốn của các tổ chức tín dụng.

      Khoản 5 Điều 474 của Bộ luật Dân sự  quy định: Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ; Điều 476 của Bộ luật Dân sự quy định: Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ. Theo các quy định này của Bộ luật thì lãi suất huy động và  lãi suất cho vay (vay và cho vay) của các tổ chức tín dụng được ấn định trên cơ sở và ràng buộc chặt chẽ về mặt pháp lý với lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố. Theo quy định tại khoản 9 Điều 12 của Luật Ngân hàng Nhà nước thì Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh.  Loại ý kiến đề nghị xem xét lại các quy định nói trên của Bộ luật Dân sự cho rằng, Điều 476 áp dụng đối với lãi suất cho vay trong hạn lớn hơn lãi  suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố và không vượt quá 150%; Trong khi đó, lãi suất áp dụng đối với các khoản vay quá hạn theo quy định tại khoản 5 Điều 474 thì tối đa chỉ bằng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố. Qua đó cho thấy, quy định về lãi suất của Bộ luật Dân sự không phù hợp với nguyên tắc trên thị trường tín dụng là các khoản vay quá hạn phải bị phạt với lãi suất cao hơn so với các khoản vay trong hạn. Do đó, nếu các tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất nợ quá hạn bằng lãi suất cơ bản thì khách hàng vay sẽ có xu hướng chậm trả nợ vay ngân hàng để hưởng mức lãi suất nợ quá hạn thấp hơn so với lãi suất vay trong hạn và điều này có thể ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng. Theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước thì lãi suất nợ quá hạn được xác định bằng 150% trên cơ sở lãi suất cho vay mà hai bên đã thoả thuận, chứ không phải là trên cơ sở lãi suất cơ bản như quy định tại Điều 474 và Điều 476 của Bộ luật Dân sự. Hiện nay, lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố là 8,25%/năm, trong khi đó lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại trung bình từ 12 - 14%/năm. Như vậy, theo quy định tại khoản 5 Điều 474 và  khoản 1 Điều 476 của Bộ luật Dân sự thì lãi suất  nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản là 8,25%/năm sẽ thấp hơn rất nhiều so với lãi suất nợ quá hạn đang được áp dụng hiện nay là 18 - 21%/năm (12%x150% = 18%, 14%x150% = 21%). Đồng thời, điều này thể hiện sự không hợp lý, phi kinh tế ở chỗ  nếu lãi suất cho vay là 12%/năm thì lãi suất nợ quá hạn lại chỉ có 8,25%/năm.
      Mặt khác, theo quy định tại khoản 5 Điều 474 và Điều 476 của Bộ luật Dân sự thì có Lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay và có Lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố  đối với loại cho vay tương ứng. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 9 Điều 12 của Luật Ngân hàng Nhà nước và thực tiễn điều hành của Ngân hàng Nhà nước thì chỉ có một loại lãi suất cơ bản được công bố hàng tháng mà không có sự phân biệt theo các loại vay hay thời hạn vay. Một thực tế nữa là, các tổ chức tín dụng huy động và cho vay vốn ngoài tiền đồng Việt Nam còn có cả ngoại tệ, lãi suất huy động và cho vay bằng ngoại tệ được ấn định theo lãi suất cố định hay thả nổi phụ thuộc vào lãi suất thị trường quốc tế và thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, trong khi đó Ngân hàng Nhà nước không công bố lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng ngoại tệ. Vì vậy, các quy định nói trên của Bộ luật dân sự cũng không phù hợp đối với các khoản vay bằng ngoại tệ. 
      Bên cạnh đó, loại ý kiến  thứ hai cho rằng, các quy định tại khoản 5 Điều 474 và Điều 476 của Bộ luật dân sự là phù hợp  với thực tiễn. Cụ thể là, khoản 5 Điều 474 của Bộ luật quy định trường hợp vay có lãi và các bên đã có thỏa thuận trước về lãi suất (trường hợp có thỏa thuận về  việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất thì theo quy định tại khoản 2 Điều 476 của Bộ luật), nhưng khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc (đây là lãi theo thỏa thuận trước đó của các bên, không phải theo lãi suất cơ bản) và lãi nợ quá hạn (theo lãi suất cơ bản). Quy định này vẫn bảo đảm sự thỏa thuận giữa các bên về lãi vay trong hạn. Còn đối với lãi vay quá hạn, phải căn cứ vào lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố, mà không thể căn cứ vào lãi suất nợ quá hạn do ngân hàng thương mại công bố vì hiện nay có nhiều ngân hàng thương mại khác nhau, do đó các mức lãi suất nợ quá hạn của từng ngân hàng cũng khác nhau.
      Về quy định tại khoản 1 Điều 476 của Bộ luật Dân sự, loại ý kiến này cho rằng, cần tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực dân sự cũng như quyền tự chủ trong kinh doanh của các tổ chức tín dụng, tuy nhiên phải trong khuôn khổ pháp luật quy định. Pháp luật  cần quy định mức lãi suất cao nhất mà các bên không được thỏa thuận vượt quá để tránh trường hợp cho vay nặng lãi và là căn cứ để xác định tội phạm theo khoản 1 Điều 163 của Bộ luật Hình sự, theo đó Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm. Về trường hợp  quy định tại khoản 2 Điều 476 của Bộ luật Dân sự chỉ xảy ra khi các bên có thỏa thuận trả lãi, nhưng không xác định rõ về lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì cần phải có căn cứ để giải quyết, khi đó sẽ xác định dựa vào lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố. Đối với các tổ chức tín dụng huy động vốn hoặc cho vay thì thông thường bao giờ cũng thỏa thuận trước về lãi suất. 
      Nghiên cứu hai loại ý kiến nói trên chúng tôi nhận thấy, các thuật ngữ liên quan tới lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố được quy định trong Điều 474 và Điều 476 của Bộ luật cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với Luật Ngân hàng Nhà nước và thực tiễn điều hành của Ngân hàng Nhà nước. Nội dung quy định tại Điều 476 của Bộ luật dân sự là hợp lý, nhưng  nội dung quy định tại khoản 5 Điều 474 thì cần phải điều chỉnh lại theo hướng lãi nợ quá hạn phải lớn hơn lãi cho vay và không vượt quá 150% của lãi suất cho vay mà hai bên đã thoả thuận, chứ không phải  dựa trên cơ sở lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố.

Đào Nguyên

Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
08:36 05/10/2013
Phí bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là khoản tiền tổ chức tham gia BHTG phải nộp cho tổ chức BHTG để bảo hiểm cho tiền gửi của người được BHTG tại tổ chức tham gia BHTG. Đây là loại phí có tính chất bắt buộc đối với tổ chức tham gia BHTG để thực hiện chính sách BHTG. Mục tiêu của việc thu phí BHTG là nhằm hình thành nguồn quỹ BHTG có sẵn để xử lý đổ vỡ ngân hàng và thực hiện mục tiêu bảo vệ người gửi tiền.
Quay trở lại đầu trang