VĂN NGHỆ
Cập nhật 22:13 | 19/08/2018 (GMT+7)
.
Xem - Nghe - Đọc

Hà Nội, trong những trang sách cũ

07:53 | 21/01/2018
Nhìn dòng người tất tả hối hả bon chen trên những nút giao thông, nghe tiếng gào rú của động cơ xe, tiếng đinh tai nhức óc từ những công trường xây dựng nham nhở, hít cái dòng bụi đen sì vào lồng ngực, nhận ra Hà Nội cũ đã chìm vào ảnh vào tranh, vào những người đã nằm xuống đất...

“Nhớ quá, cái gì của Hà Nội cũng nhớ, bất cứ cái gì của Bắc Việt cũng nhớ...” - Vũ Bằng ngồi Sài Gòn mà xuýt xoa nhớ Hà Nội, như người con trai nhớ người con gái. Nhìn đâu cũng nhớ, như nàng Mỵ Nương cứ nhìn vào chén bạch đàn là thấy hiện bóng chàng Trương Chi.

Lại có người chưa xa Hà Nội như tôi đây, mà sao vẫn nhớ. Nhớ cái Hà Nội xưa mà tôi chưa bao giờ gặp, cái Hà Nội đã khô đen nơi những con chữ in trong trang sách úa vàng, hay đọng lại thành từng giọt nhạc buồn rung trên những dây guitar đã lệch nhịp tháng năm, cái Hà Nội “dài ánh trăng mơ, liễu mềm nhủ gió ngây thơ”, còn người khách lữ hành chơ vơ trong ánh đèn chênh chếch.

Năm Cửa Ô ơi, Năm Cửa Ô đâu hết rồi? Đống Mác, Chợ Dừa, Cầu Dền, Cầu Giấy, đâu hết rồi? “Tíu tít gánh gồng, đây Ô Chợ Dừa, kìa ô Cầu Dền, làn áo xanh nâu, Hà Nội tươi sáng...”. Giờ chỉ còn Ô Quan Chưởng, một tòa thành bé nhỏ màu xám nâu, những mảng tường loang lổ, màu gạch đỏ đã ngả rêu phong, vòng cổng bở ra như chiếc bánh mỳ ai gặm lem nhem, người lại qua đông nghìn nghịt, phải lách qua ba chiếc cổng, bên kia dây điện chằng chịt vắt chéo không gian...

Phố phường bây giờ đâu còn lúc nào đìu hiu, quạnh quẽ như trong tranh Phái? Chỉ một chiếc xe đạp dựng sát bờ tường, và một người đàn bà áo đỏ quần đen quay mặt đi, phố rẽ ngoặt một góc, đoạn đường còn lại mất hút khỏi tầm nhìn, ngôi nhà hai tầng, hai cửa sổ sơn xanh như hai con mắt, những căn nhà là những khối hộp xếp lên nhau, mái nâu màu cánh gián...?

Nhà bà ngoại tôi, đi sâu vào con ngõ tối, rẽ vào một cầu thang gỗ mục kêu cọt cà cọt kẹt, tòa nhà từ thời Pháp thuộc, cửa sổ lớn với những chấn song họa tiết, cứ mở ra là nắng tràn vào. Ban đêm, trên chiếc giường lớn nằm kế bên cửa sổ, dù có rèm mà ánh đèn điện vàng vọt của phố Trần Nhân Tông vẫn lọt qua dễ dàng, hắt lên sàn nhà những vạt hình chữ nhật dài, bà lẩy Kiều ru tôi ngủ: “Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”.

Hồi thiếu nữ, bà tôi là nữ sinh trường Đồng Khánh, nay là Trưng Vương, ngôi trường trăm tuổi. Ngày ấy, tôi nghe nói nữ sinh Đồng Khánh Trưng Vương nổi tiếng xinh đẹp, tài hoa, vừa học văn hóa, lại được dạy chơi đàn, ca hát. Bà thuộc nhiều thơ kinh khủng, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, rồi đến cả Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh... Tôi yêu thơ cũng vì bà tôi yêu thơ. Đêm mùa thu lao xao, nghe tiếng rao đêm của người bán lục tàu sá nương vào gió thu, rèm bay phơ phất, con mèo vàng cuộn tròn nằm trên chiếc ghế đầu giường mắt lim dim, nghiêng người nhìn căn nhà cũ với nào là nồi niêu ấm nước cũ, nào là ảnh ông bà tôi từ thuở hoa niên (ông tôi dạo đó còn đẹp trai), rồi những chiếc tủ đồ, nơi cất quần áo, chỉ thêu, những chiếc phong bao lì xì không dùng từ hồi Tết, nghe bà ngâm nga: “Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông/ Nó lại lôi ông đến giữa đồng/ Lấy của, đánh người quân tệ nhỉ/ Thân già da cóc có đau không...”, rồi khúc khích cười, thì sao mà không yêu thơ cho được?

Lớn lên một chút, tôi bắt đầu lục tủ sách của bà. Sách để trong tủ không hết, còn để chồng lên nhau ở bên ngoài, bà thậm chí còn có một cuốn sổ ghi tên từng cuốn, vị trí để ở đâu, sau còn tiện tìm. Tôi mê nhất là ba ông họ Nguyễn: Nguyễn Du - Nguyễn Khuyến - Nguyễn Bính. Thơ ông Du sang, thơ ông Khuyến tếu, thơ ông Bính tình. Cái tình của ông Bính chân quê lắm, ra đến thành thị rồi nó vẫn cứ quê quê thế nào:

“Hà Nội ba mươi sáu phố phường,
Lòng chàng có để một tơ vương.
Chàng qua chiều ấy qua chiều khác,
Góp lại đường đi: vạn dặm đường”

Quê thế chứ lại, quê đến mức ra phố rồi mà vẫn cứ giữ cái tình tang chân chất, cứ vấn vấn vương vương si mê cô gái nọ chẳng vì lý do gì, ngày ngày cố ý đi ngang qua cái phố ấy, cái nhà ấy, để được thấy cô, rồi lòng bứt rứt không yên, vừa muốn qua mà lại chẳng muốn qua nữa, vừa muốn níu lại vừa muốn dứt, rối bời tự hỏi:

“Chân bước khoan khoan, lòng hỏi lòng:
-Có nên qua đấy nữa hay không?
Không nên qua đấy, nên qua đấy?
Không, nhớ làm sao! qua, mất công”

 “Giờ chỉ còn Ô Quan Chưởng, một tòa thành bé nhỏ màu xám nâu, những mảng tường loang lổ, màu gạch đỏ đã ngả rêu phong, vòng cổng bở ra như chiếc bánh mỳ ai gặm lem nhem, người lại qua đông nghìn nghịt, phải lách qua ba chiếc cổng, bên kia dây điện chằng chịt vắt chéo không gian...”.

Mãi sau này, tôi mới ngờ ngợ, có lẽ cái tình của Nguyễn Bính cũng như cái tình của cô Amelie trong bộ phim Pháp ngày xưa, bày ra đủ trò cút bắt với anh Nino, bí mật dẫn anh vòng vòng khắp Paris để rồi đến cái lúc anh tìm được mình thì lại ngại ngùng không dám gặp. Tôi ngã ngửa ra, tình Paris rồi rốt cũng giống như cái tình nhà quê lên tỉnh của Bính, bởi vì ai chẳng là người nhà quê. Cái tình yêu thực sự làm người ta ngây ngô quê mùa hết cả.

Lâu lâu một bữa, bạn bè trong hội thơ của ông bà lại lên chơi. Bốn chiếc ghế bành, một chiếc ghế dài, hai ấm trà nhài, mấy trái quýt, thêm ít mứt bí khô, ấy thế là đủ để chục ông bà già ngồi quanh nói chuyện thi thơ. Có một bà làm thơ hay lắm, đi bảy bước chân là làm được bài thơ thất ngôn bát cú, khiến ai cũng phải xuýt xoa ngưỡng mộ. Tôi tiếc Hà Nội xưa là tiếc cái không khí ấy. Những điều Vũ Bằng viết tới nay dường như đã lỗi thời. Còn nhà ai ban đêm đánh tam cúc, ăn cá anh vũ, còn ai đi gọt hoa thủy tiên, tự tay ướp trà, còn đâu “những ngày tháng trôi đi nhẹ nhàng, không lo tiền, không lập mưu thiết kế, không oán ức, ăn rau rút ruột mè, cũng thấy ngon”?

“Hà Nội chẳng vội được đâu”, cái điệu nhàn nhã làm nên cái duyên thầm riêng có của người Hà Nội một thời. Nhưng giờ thì tôi không còn thấy thế nữa. Nhìn dòng người tất tả hối hả bon chen trên những nút giao thông, nghe tiếng gào rú của động cơ xe, tiếng đinh tai nhức óc từ những công trường xây dựng nham nhở, hít cái dòng bụi đen sì vào lồng ngực, nhận ra Hà Nội cũ đã chìm vào ảnh vào tranh, vào những người đã nằm xuống đất.

Không phải Hà Nội ngày xưa cái gì cũng tốt. Đọc “Chuyện cũ Hà Nội” của cụ Tô Hoài mà lắm khi cười ra nước mắt. Người thì kiếm tiền bằng cách đi tù thay cho các ông nhà giàu nấu rượu, người thì nghèo rớt mồng tơi còn bày đặt tổ chức tang ma cha linh đình mong gom được tiền phúng... Chuyện cũ đắng thế mà vẫn đong đầy thương mến thế, hẳn ông Tô Hoài phải yêu Hà Nội lắm lắm!

Mỗi lần nghĩ tới Sài Gòn, tôi lại nhớ Vũ Bằng từng viết: “Sài Gòn, Phú Lâm, Bình Lợi, Chợ Lớn, Lồ Ồ... vui quá, cứ uống rượu mạnh thế này, nghe con hát đàn vừa múa vũ vừa ca..., thì sao lại có thể rầu rĩ được?”. Ấy vậy mà vẫn rầu rĩ như thường, không rầu rĩ sao ông viết “Thương nhớ mười hai”, quá rầu đi chứ! Những trang văn buồn và đẹp mà khi gấp lại, tôi chỉ muốn lao về nhà bà ngoại, chọn lấy một tệp băng cát sét Ngọc Bảo hát “Đêm đông”. Tiếng băng kêu rè rè, cái đài cũng rè rè, rè rè nhân đôi. “Đêm đông, thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư. Đêm đông, ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng...”.

Nhưng Hà Nội nay, thi nhân xưa đâu tá? Ca nhi xưa đâu tá? Hà Nội xưa đâu tá?

Hiền Trang
Xem tin theo ngày:
ÂM NHẠC
14:59 11/02/2015
Cuối năm 2014 đầu năm 2015, chương trình Lửa của nghệ sĩ piano Phó An My, nhạc sĩ Đặng Tuệ Nguyên cùng các diễn viên Nhà hát Tuồng Việt Nam đã mang đến cuộc đối thoại thú vị giữa piano - khí cụ của châu Âu và tuồng - nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam, dựa trên sự tôn trọng đặc thù của từng loại hình.
Quay trở lại đầu trang