VĂN NGHỆ
Cập nhật 17:34 | 21/10/2014 (GMT+7)
.

Người từ miền hoa ban
Mã A Lềnh

29/11/2007
Cái tên Kà Kha Sam, người Khơ Mú làm hội họa được nghe từ lâu, nhưng phải đến Đại hội III của giới văn nghệ sỹ các dân tộc thiểu số tôi mới được gặp. Trong dáng mặt, ánh mắt cười cười, câu chuyện sôi nổi, dí dỏm cuốn hút ngay, khiến tôi thầm nghĩ nếu được ở gần Kà Kha Sam, mình sẽ trẻ ra thêm vài tuổi.

      Trước đó, trong một chuyến “tây du” khắp các tỉnh miền Tây Bắc, dừng ở Sơn La một ngày, tôi chỉ được gặp Kà Kha Sam thoáng qua buổi họp mặt với các văn nghệ sỹ sinh sống ở địa phương, vì hình như anh đang bận rộn với công việc dạy học, hơn nữa, làm việc trong hoàn cảnh nghị trường, nên xong việc là tản ngay. Và, tôi không thể giấu sự mừng vui khi được biết Quốc hội Khóa IX có một đại biểu vừa đại diện cho giới văn nghệ sỹ, vừa đại diện cho đồng bào các dân tộc ít người, đó là Kà Kha Sam. Vậy nên được Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam triệu tập tới sáng tác, tổ chức tại Nhà khách Công đoàn Mộc Châu, tỉnh Sơn La đầu tháng 4.2007, tôi với Kà Kha Sam như thân thiết từ lâu, như đôi bạn tình gặp lại ở chợ vùng cao. Quả lời đồn không sai, anh vẽ như múa. Những nét vẽ của anh chắc nịch như bổ nhát cuốc, như bập lưỡi cày vào hốc đá, như lia con dao phát vào bụi cỏ, khi đậm, khi nhạt, khi lượn, khi bay. Và anh khoe mấy bức vừa hoàn thành trong trại, tôi nhận ra sắc màu thổ cẩm, những nét sinh hoạt, lao động, núi non, rừng rú... chiếm hết tâm trí anh, luôn choán ngợp trong niềm cảm hứng của anh. Kà Kha Sam, một họa sỹ người Khơ Mú độc nhất vô nhị không biết đã hút hồn tôi tự khi nào. 

      Kà Kha Sam sinh năm 1945, tại làng hẻo lánh Pi Toong, xã ít Oong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, gồm người H’Mông, người Thái và người Khơ Mú cùng sinh sống, trong đó nóc nhà người Thái đông hơn. Còn người Khơ Mú chỉ có vài nóc, lại rải rác tận chân rừng, bờ nương. Pi Toong có nghĩa là bi chuối, nghe cái địa danh ấy đã thấy se lòng thắt dạ. Nếu như không có ánh sáng của Đảng, của cách mạng rọi tới, Pi Toong không nói quá, tự ngàn xưa đã trở thành linh vật của người sống gắn với rừng, vì bi chuối, củ mài là nguồn sống chính. Còn lúa, ngô, khoai không phải là thứ lương thực có sẵn, lại chỉ mỗi năm một vụ. Khi được mùa, ngọn rau rừng cho thêm bát canh mát lòng. Năm mất mùa, thì rau rừng là lương thực cứu đói. Có lẽ bởi thế nên Kà Kha Sam không còn nhớ bố mẹ mình, cả dáng hình, tên tuổi, đến như tên bố mẹ đẻ thuộc dòng máu Khơ Mú đặt cho cũng chưa kịp nhận. Bố mẹ khuất vào sương rừng gió núi quá sớm, để lại thằng bé tự nhoài người ra cửa, ra hiên, rồi mon men toài vào chân rừng.
      Bữa cơm chiều, ngồi đối diện với tôi, trước cửa sổ, Kà Kha Sam nâng cao chén rượu.
      - Anh Lềnh có biết Khơ Mú nghĩa là gì không?
      Tôi hạ thấp chén của mình, không dám sánh ngang với anh.
      - Khơ... Mú... tức là con lợn sề đeo cái gông kềnh càng, để khỏi ủi vào vườn người ta ấy mà!...  – Anh có vẻ tỉnh queo.
      Tôi, lúc bấy giờ, chắc là đang nheo mắt, nhìn hình Kà Kha Sam trong chén rượu, lòng nhủ lòng: Hãy biết cười đùa đi. Cười đùa cho mình trẻ lại, cho mình quên xừ đi những nước mắt của cuộc đời!
      Thằng bé bíu tay xuống đất đứng dậy. Trên thân nó chỉ có manh áo, đúng hơn là mảnh giẻ, chẳng hiểu sao nó không về lại ngôi nhà trống vắng của mình, mà lại lần đường trâu bò bằng bốn tay chân lên ngọn núi sừng sững trước mặt. Nó đâu biết rằng tai ương đang rình rập. Chẳng nói gì thú lớn như hổ báo, lợn lòi, thú bé như con chuột, con chim, con kiến khi đói cũng gặm nhấm, mổ đục người sắp tàn hơi như chơi. Lúc ấy Kà Thị Nhại, cô gái Thái trong làng vừa “tằng cẩu” (*) lòng bồn chồn, vì chờ mãi không thấy chồng mới cưới về, nghe thấy tiếng trẻ khóc, rõ là tiếng khóc tìm mẹ, tìm cha trong vô vọng, cô nhảy xuống sàn, chạy ào tới nơi có tiếng khóc, ôm chầm lấy đứa trẻ như là định mệnh:
      Lụk ơi lụk ơi/ Chắng má pánh lụk/ Sai chaư ếm ơi/ Nón nớ cẩu nón nớ/ ếm nhăng pay dệt hày/ Nón nớ cẩu nón nớ...
      Con ơi con ơi/ Mẹ yêu con lắm/ Trái tim của mẹ ơi/ Con ngủ ngủ ngoan/ Mẹ còn đi lên nương/ Con hãy ngủ ngon đi/ Lụk ơi lụk ơi...
      Nghe tiếng ru ngọt ngào tha thiết, thằng bé lim dim chìm vào giấc ngủ. Sương giăng kín rừng. Màn đêm ập xuống. Chờ mãi vẫn không thấy chồng Kà Văn Sĩ về. Mẹ Kà Thị Nhại loay hoay bắt con gà nhép, thay chồng trịnh trọng đứng trước nơi sẽ đặt bàn thờ, trịnh trọng tuyên bố với thần nóc nhà, thần núi rừng: Từ nay Kà Văn Sĩ là chồng, Kà Thị Nhại là vợ chính thức được làm bố làm mẹ, tên con trai là Kà Kha Sam! Lời nôm na thấu vào trời đất, ủ vào ngọn lửa, giém vào tấm đệm, cất vào chân thang, những nơi thân thuộc mà thiêng liêng để thằng bé bện nhà nhớ lối. Từ nay, thằng bé được mang tên Kha Sam, họ Kà của người Thái.
      Mẹ Nhại vẫn bươn bả nuôi con một mình. Khi lên nương, thằng bé ật ưỡng trên lưng. Khi xuống ruộng, thằng bé bò lồm ngồm dưới gốc cây. Bố Kà Văn Sĩ vẫn đi biệt tăm biệt tích.
      Lớn lên một chút, thằng bé Kà Kha Sam đã biết chăn trâu, làm nương, làm ruộng, cả những việc lặt vặt trong nhà như người lớn. Hôm ấy rong trâu lên nương, Kà Kha Sam cố giẫy cho xong đám cỏ, đến tối mịt mới về, thì nếp nhà đảo lộn hết cả. Chạy sang nhà hàng xóm, thấy vắng tanh. Không nóc nhà nào đỏ lửa. Làng xóm hoang tàn như cả một lũ ác quỷ vừa tràn qua. Gọi mãi mà không có tiếng mẹ thưa. Tiếng gọi khản đặc, chỉ còn ọ ẹ trong cổ. Kà Kha Sam một lần nữa mồ côi.
      Sống vất vưởng một mình, bữa thì được gáo cơm nguội nhà này cho, bữa thì được đũa rau rừng nhà kia gọi. Rồi một hôm có người mặc áo Tây, đầu đội mũ nồi Thái đến tìm.
      - Vì bố mày đi làm cách mạng, nên Tây nó bắt mẹ mày đi làm gái xòe rồi. Bây giờ chỉ còn cách mày phải chăn trâu cho nhà tao thôi!

*

      Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Kà Kha Sam vẫn chăn trâu cho nhà giàu Lò Văn Muôn, ở bản Họ Hẹo ngay trong phố thị Sơn La.
      Hôm ấy trong lòng như có lửa, Kà Kha Sam lùa trâu về tới nhà, thì thấy một người đàn bà, ăn mặc nửa Tây nửa Thái, tóc búi sau gáy, chứ không độn lên chỏm đầu. Nhác thấy Kà Kha Sam còn đang ngơ ngác tưởng nhà có khách sang, người đàn bà đã nhào đến ôm ghì lấy thằng bé chăn trâu mặt mày nhem nhuốc, tóc tai bù xù, nấc lên:
      - Lụk ơi, ếm đây! Sao ông trời lại bắt mẹ con tôi phải khổ thế này?
      Cứ thế, nước mắt của bà tuôn ròng khi thằng bé đã chịu ấp mái đầu tổ quạ vào ngực. Bà sờ nắn mãi từ khuôn mặt, đến cổ, đến vai, đến tấm lưng gầy nhô xương. Khi cạn nước mắt, bà mới mếu máo nửa nụ cười:
      - Mẹ tìm thấy con rồi! Đất nước hòa bình rồi! Mẹ con ta sẽ ở bên nhau mãi mãi, con nhá!
      Lúc bấy giờ mới chợt nhớ mình từng có mẹ, từng được mẹ ôm ấp trong lòng những đêm rét mướt, từng được mẹ dành cho con cua luộc, con chạch nướng, Kà Kha Sam ngước lên nhìn khuôn mặt là lạ của mẹ:
      - Ếm cho con về nhà mình đi!
      - Ừ, rồi mẹ sẽ lo một túp lều để mẹ con mình ở. Nhà mình không còn nữa rồi, con ạ! Cả bố Kà Văn Sĩ con chưa một lần thấy mặt cũng vĩnh viễn không về nữa rồi! – Mẹ Nhại lại nghẹn ngào – Mẹ tưởng bố con đi làm thuê xa, hóa ra bố đi làm cách mạng, đã hy sinh ở Mường Mơn, huyện Mai Sơn rồi. 
      Hai mẹ con sẽ chôn vùi quá khứ tủi cực cùng với túp lều Pi Toong hiu hắt để làm lại cuộc đời từ đây!
      Bị giặc Tây bắt vào đồn Sơn La, rồi dồn đẩy tới nơi đô thành lạ hoắc. Nhưng giấu kín nỗi niềm đau đáu nhớ thương con, mẹ Nhại cố dành dụm, chắt bóp chút tiền làm lưng vốn để khi có thời cơ là sẽ trở về tìm con. Tây bỏ chạy. Đất trời hòa bình rộng mở. Mẹ Nhại hăm hở ngược về núi, vừa đi vừa hỏi đường. Đến lúc không đi nổi nữa thì bò tứa máu đầu gối, khuỷu tay. Mấy người đàn ông đi đường thấy một người đàn bà xơ xác, tả tơi, rủ lòng thương, đã làm cáng đưa mẹ Nhại về. Cảm tạ lòng tốt của họ, mẹ vét hết những đồng xu trong đáy túi nài nỉ được trả công. Nhưng họ không nỡ lấy cả, nên mẹ Nhại vẫn còn chút vốn nhờ người dựng cho túp lều, phá hoang cây cỏ làm mảnh nương.
      Năm 11 tuổi, được chọn tuyển đi học trường thiếu nhi dân tộc nội trú khu tự trị Thái – Mèo, cuộc đời cậu bé Kà Kha Sam lột đổi từ đây. 1959, đang học lớp ba, thấy hé lộ năng khiếu hội họa, thế là Kà Kha Sam, qua nhà trường giới thiệu, được Trường Đại học Mỹ thuật gọi đi cùng với ba bạn người H’Mông và hai bạn người Thái nữa. Tới trường Yết Kiêu, Kà Kha Sam được phân bổ vào hệ trung cấp ba năm, còn Lò An Quang và Hoàng Dương học hệ bảy năm, nay họa sỹ Lò An Quang đương giữ chức Phó chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Sơn La, mới được nhận giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2006. Tốt nghiệp năm 1963, Kà Kha Sam hồ hởi trở về quê, nhận công tác tại Ty Văn hóa tỉnh. Bước vào sự nghiệp mới thấy mình còn quá thiếu kiến thức. Nghề họa, năng khiếu là cơ bản, nhưng chưa đủ. Cuộc sống luôn là bức màn huyền bí đối với những người khát khao tri thức. Để chuẩn bị hành trang bước đi trên con đường dài đầy gian nan, năm 1964, Kà Kha Sam trở về Trường Yết Kiêu xin thi vào hệ đại học. Tự mình loại ra khỏi diện nhà nước nuôi, nên mẹ Nhại ở nhà phải làm lụng đầu tắt mặt tối để có đồng tiền dành dụm cho con; và thương mẹ, Kà Kha Sam nhiều phen nhịn đói dành tiền mua giấy bút, màu mực. Cũng năm ấy chiến tranh lan ra toàn quốc. Là một học sinh giỏi, còn là một họa sỹ trẻ dân tộc thiểu số trong số rất ít người đầy hứa hẹn, biết mình được ưu tiên, nhưng Kà Kha Sam vẫn viết đơn xin nhập ngũ, rồi hăm hở cùng chúng bạn đi vào mặt trận. Sau sáu năm xông pha trên chiến trường B1, Kà Kha Sam được ra Bắc an dưỡng. Một thời gian ở Bộ Tư lệnh Thủ đô, cô gái người Kinh Hà Nội, Nguyễn Thị Viện, đặc sệt nông dân ngoại thành thầm cảm mến tài năng của anh, rồi quyết chí theo chân anh lên “miền Tây Bắc núi ngút ngàn trùng xa” nhưng lại đầy hoa ban trắng thơ mộng. Không thỏa mãn với những gì đã học, sửa sang phần mộ cho mẹ Nhại, thu xếp công việc cho vợ, và được người vợ thủ thỉ động viên, Kà Kha Sam trở lại Trường Yết Kiêu xin học nốt năm thứ tư để có tấm bằng chính trực. Thầy hiệu trưởng không tin lắm về người học trò từ miền núi tới, khuyên rằng đi chiến đấu bằng ấy năm, kiến thức có phần rơi rụng, nên học lại từ năm thứ ba. Nhưng Kà Kha Sam bảo: “Nếu không đủ tin, thầy cho em làm bài kiểm tra trình độ năm thứ tư. Em sẽ thử sức!”. Nhận bài thi, thầy ngỡ ngàng: “Đây sẽ là một tài năng đặc biệt!”.
      Năm 1982, họa sỹ Kà Kha Sam tốt nghiệp, đoạt thủ khoa với tác phẩm sơn dầu Uống rượu cần, hiện vẫn còn lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, và anh trở thành hội viên Hội Mỹ thuật từ đó. Nhà trường muốn giữ lại. Nhưng không ở đâu bằng quê hương mình. ở đó có núi rừng, có sắc màu các dân tộc, có những làn điệu dân cư mềm mại, những câu chuyện cổ thâu đêm, ở đó là miền kỷ niệm ắp đầy, và hơn hết, ở đó có người vợ dịu hiền, nết na tận lòng yêu chồng, thương con, yêu hết cả nghề “thừa giấy vẽ voi” của chồng. Về Sơn La, khi thì làm phó giám đốc Nhà Văn hóa Trung tâm tỉnh, khi thì được giao chức trưởng phòng quản lý văn hóa cơ sở của Sở Văn hóa – Thông tin, rồi giáo viên Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật. Không thích nhoài vào thế giới quan chức, Kà Kha Sam nhẩn nha uống rượu và đùa vui với bạn bè. Nhưng với chén rượu này, một ý tưởng nở ra, với bạn một quãng đường, một tứ mới xuất hiện. Thế nên đến nay, quá tuổi sáu mươi, họa sỹ Kà Kha Sam đã có hàng trăm bức tranh, trong đó có những bức đã thành một phần hành trang của khách du lịch, của nhà chính khách bay sang tận Mỹ, Pháp, ý và thường có mặt tham gia các cuộc trưng bày, triển lãm, vận động sáng tác từ cơ sở cho đến cấp quốc gia.
      - Có bán được tranh không? – Tôi rụt rè, biết là câu hỏi thừa.
      - Làm sao bán được, anh. Vẫn phải ăn cơm vợ. Vẽ cho vui đời thôi! – Anh chợt lặng, mắt thoáng nhìn đi xa vắng, nhưng lại tươi cười ngay - Thôi, ngồi xuống đây, ta làm một chén rượu đã, hay là thích ra ngoài kia làm một ly cà phê? Ngày mai chia tay rồi.

     __________
      (*) Các cô gái Thái lấy chồng đều búi tóc lên chỏm đầu

Xem tin theo ngày:
ÂM NHẠC
08:53 15/10/2014
Vladimir Ivanoff, đứng đầu dàn nhạc Ensemble Sarband, nói về dự án Passio - Compassio, cũng như về đam mê và đau khổ, cảm thông. “Với dự án này, chúng tôi cố gắng chế ngự khổ đau bằng âm nhạc, chuyển đổi nó thành sự quan tâm, sự quan tâm đối với người khác, người lạ”.
Quay trở lại đầu trang