VĂN HÓA - GIÁO DỤC
Cập nhật 11:31 | 14/11/2018 (GMT+7)
.
Sửa đổi toàn diện Luật Giáo dục

Xây dựng hệ thống giáo dục mở, liên thông, thống nhất

08:34 | 08/11/2018
Hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam đã khá đầy đủ và hoàn chỉnh, với các cấp bậc, trình độ đào tạo từ giáo dục mầm non đến sau đại học. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các bộ phận của hệ thống cần được làm rõ hơn nữa trong dự thảo Luật Giáo dục (sửa đổi) để giáo dục đáp ứng có chất lượng và hiệu quả các nhu cầu học tập khác nhau của người học và yêu cầu đa dạng về nhân lực của xã hội.

Mở và liên thông giữa các thành tố

Trong Luật Giáo dục 2005, Điều 4 đã có các quy định về hệ thống giáo dục quốc dân, thể chế hóa một cơ cấu hệ thống hoàn toàn tương thích với cơ cấu chung, đã được cập nhật của các hệ thống giáo dục tiên tiến trên thế giới. Tới dự thảo Luật Giáo dục (sửa đổi), nội dung về Hệ thống giáo dục quốc dân được thể hiện trong Điều 5: Hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên. Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: Giáo dục mầm non gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo; Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông; Giáo dục nghề nghiệp đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác; Giáo dục đại học đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ...”.

Theo ông Lê Viết Khuyến - Hiệp hội Các trường ĐH, CĐ Việt Nam: Trong dự thảo còn dành một số câu khiêm tốn về hệ thống giáo dục, sau này sẽ khó triển khai thực hiện. Dự thảo cần trình bày, làm rõ hơn, một là mở ở đâu, hai là liên thông như thế nào.

Nghị quyết 29-NQ/TW về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định: “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo”. Theo nhiều chuyên gia, các vấn đề mở, linh hoạt và liên thông này được thể hiện ra sao giữa các thành tố trong hệ thống cũng là vấn đề cần được quan tâm làm rõ trong dự thảo Luật.

Khơi thông điểm nghẽn

 “Yêu cầu về phân luồng là yêu cầu chung của mọi hệ thống giáo dục để bảo đảm có sự đa dạng về nguồn nhân lực theo định hướng hàn lâm và nghề nghiệp. Riêng đối với một nước đang phát triển như nước ta thì yêu cầu về tính phân luồng đặc biệt quan trọng để có cơ cấu nhân lực phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế...”.

Chuyên gia giáo dục TS. Phạm Đỗ Nhật Tiến

Thực tế thời gian qua, phân luồng và liên thông vẫn là một trong những vấn đề bức xúc của giáo dục Việt Nam. Liên thông là cơ chế để công nhận và miễn trừ cho người học không phải học lại, gồm có: Liên thông dọc, liên thông ngang và liên thông quốc tế. Để liên thông được, phải có hệ thống chuyển đổi tín chỉ, trong khi giáo dục nước ta chỉ có hệ thống tích lũy tín chỉ, chưa có hệ thống chuyển đổi tín chỉ, nên không thể có liên thông “đến nơi đến chốn”. Do vậy, trong dự thảo Luật, bên cạnh tích luỹ tín chỉ để được công nhận văn bằng thì cần có quy định về chuyển đổi tín chỉ để có sự liên thông trong hệ thống.

Hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất gồm 4 cấu phần, nhưng nhiều chuyên gia cho rằng, hiện nay, khâu “nghẽn” là học sinh học hết THCS đi học nghề, và từ học nghề liên thông lên CĐ, ĐH. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mỗi năm gần 400.000 học sinh không vào THPT, trong đó 80.000 - 90.000 học sinh học giáo dục thường xuyên, 25.000 - 28.000 học sinh học nghề, và còn một bộ phận không có kỹ năng nghề ra làm việc. TS. Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo chia sẻ: “Từng tham gia thiết kế chính sách liên thông, chúng tôi đưa vào đó các chứng chỉ 1 - 2 - 3, với mục tiêu định hướng phân luồng. Ví dụ, học sinh học lớp 10 học nghề, khi thi tay nghề cấp được chứng chỉ 1, lớp 11, 12 có thể học tiếp để có chứng chỉ 2, 3. Tại một số quốc gia, giáo dục nghề và giáo dục phổ thông gắn rất chặt như vậy. Hoàn cảnh Việt Nam có cái khác, bởi hiện nay 2 lĩnh vực này thuộc 2 Bộ quản lý nên cần có sự phối hợp chặt chẽ”.

Thực tế, sau khi học THCS và THPT, nhu cầu tiếp tục học tập của một bộ phận học sinh rất mở, đa dạng. Nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ Trần Thị Tâm Đan phân tích: “Hệ thống giáo dục Việt Nam nếu nói đơn giản gồm: Một là giáo dục phổ thông - giáo dục hình thành nhân cách; hai là giáo dục nghề (theo nghĩa rộng) gồm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Mục tiêu giáo dục phổ thông là đào tạo kiến thức cơ bản để các cháu đi vào học các trình độ nghề. Vấn đề liên thông đã thực hiện, nhưng vẫn có điểm chưa thực hiện được, trong khi đó, nhu cầu xã hội rất đa dạng, vậy nên, cần thiết kế chương trình phổ thông và chương trình nghề ra sao để đáp ứng nhu cầu đa dạng ấy. Sự liên thông giữa các cấp bậc và trình độ đào tạo cần được làm rõ trong Luật, để thuận lợi cho người học”.

Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ Phan Thanh Bình nhấn mạnh: “Trong Luật Giáo dục (sửa đổi) cần xây dựng nguyên tắc liên thông, đặc biệt giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp. Khi hệ thống giáo dục quốc dân mạch lạc thì chất lượng sẽ đi cùng”.

Ngọc Phương
Xem tin theo ngày:
GIÁO DỤC
07:55 22/10/2018
Trong khuôn khổ chương trình Nghiên cứu trọng điểm về khoa học giáo dục, nhóm nghiên cứu của Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đã khảo sát xã hội học hơn 4.000 người liên quan về những chuyển biến trong giáo dục và đào tạo. Nhóm đã thực hiện phân tích và đối sánh với dữ liệu nền năm 2013 ở những chỉ số tương ứng, hoặc với mục tiêu chính sách và thấy rằng, đã có chuyển dịch tích cực thực sự trong giáo dục Việt Nam.
Quay trở lại đầu trang