VĂN HÓA - GIÁO DỤC
Cập nhật 17:59 | 14/12/2018 (GMT+7)
.

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo - 5 năm nhìn lại

07:55 | 22/10/2018
Trong khuôn khổ chương trình Nghiên cứu trọng điểm về khoa học giáo dục, nhóm nghiên cứu của Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đã khảo sát xã hội học hơn 4.000 người liên quan về những chuyển biến trong giáo dục và đào tạo. Nhóm đã thực hiện phân tích và đối sánh với dữ liệu nền năm 2013 ở những chỉ số tương ứng, hoặc với mục tiêu chính sách và thấy rằng, đã có chuyển dịch tích cực thực sự trong giáo dục Việt Nam.

Những chuyển biến tích cực

Thứ nhất, hoàn thiện “Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân” và ban hành “Khung trình độ quốc gia Việt Nam”. Năm 2016, Việt Nam đã hoàn thiện “Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân” theo hướng bám sát tiêu chuẩn phân loại giáo dục của UNESCO 2011 và ban hành “Khung trình độ quốc gia Việt Nam” với 8 bậc phù hợp với khung trình độ ASEAN. Đây là điều rất quan trọng cho lao động được đào tạo của Việt Nam trong ASEAN.

Thứ hai, phổ cập giáo dục mầm non và thực hiện chính sách miễn học phí. Năm học 2013 - 2014, cả nước mới có 18 tỉnh, thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi thì đến năm 2017, 63/63 tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Tháng 8.2018, Chính phủ đã thống nhất chủ trương thực hiện chính sách miễn học phí đối với trẻ mầm non 5 tuổi và hỗ trợ đóng học phí cơ sở ngoài công lập đối với trẻ em diện phổ cập.

Thứ ba, mục tiêu phổ cập trung học phổ thông đã đạt được một bước. Nghị quyết 29 xác định “phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương”. Tính đến 2017, số học sinh trung học phổ thông và tương đương của Việt Nam là trên 3,1 triệu, tức là đạt trên 67% thanh niên trong độ tuổi.

Chất lượng giáo dục phổ thông của nước ta được quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Ngân hàng Thế giới đã khẳng định Việt Nam là một trong 10 hệ thống giáo dục đổi mới hàng đầu của thế giới nằm ở khu vực Đông Á - Thái Bình Dương. Báo cáo Phát triển 2018 của Ngân hàng Thế giới cũng tái khẳng định là năng lực học sinh lứa tuổi 15 của nước ta, một nước thu nhập trung bình thấp, có kết quả vượt trội so với mức trung bình của học sinh khối các nước có nền kinh tế phát triển OECD.

Trong bồi dưỡng tài năng, sau một thời gian hơi “chững” lại, 5 năm trở lại đây, thành tích của các đội tuyển quốc gia Việt Nam dự thi Olympic quốc tế và khu vực liên tục duy trì ở mức cao. Giai đoạn 2012 - 2018, các đoàn học sinh Việt Nam tham dự cuộc thi Intel ISEF quốc tế tổ chức tại Hoa Kỳ đã đạt 22 giải các loại. Đặc biệt, năm 2017, Việt Nam là 1 trong 5 nước có giải thưởng nhiều nhất của cuộc thi.

Đến nay, chương trình giáo dục phổ thông mới cơ bản đã hoàn thành, các môn học trong chương trình đã và đang được thực thực nghiệm ở một số địa phương. Nhiều phương pháp dạy học và giáo dục, kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực người học được áp dụng. Việc đổi mới thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tuyển sinh đại học dù còn một số vấn đề về kỹ thuật, nhưng nó đã thực sự giảm áp lực, tốn kém cho xã hội. Đồng thời dần khắc phục tình trạng học lệch, học tủ ở trường phổ thông và hiện tượng luyện thi tràn lan. Các trường đại học nhờ đó cũng cơ bản tuyển đúng người, tuyển đủ chỉ tiêu và tiết giảm đáng kể chi phí tuyển sinh.
Thứ tư, tự chủ đại học được đẩy mạnh, chất lượng giáo dục đại học từng bước được thế giới công nhận thông qua kiểm định chất lượng và xếp hạng đại học quốc tế. Đến nay có 23 cơ sở giáo dục đại học được thí điểm thực hiện tự chủ. Kể từ đó, số lượng đề tài khoa học đấu thầu thành công và số bài đăng trên các tạp chí ISI/SCPUS, các bằng độc quyền và giải pháp hữu ích đều tăng, số lượng chương trình mở mới tăng trong khi quy mô đào tạo ổn định; thu nhập của người lao động tăng. Trước năm 2014, duy nhất ĐHQGHN vào bảng xếp hạng đại học châu Á của Tổ chức xếp hạng đại học QS và nằm trong top 250, thì đến năm 2018 có 5 cơ sở giáo dục đại học nằm trong top 400. Trong đó, hai ĐHQG nằm trong nhóm 150 trường tốt nhất châu Á. Đặc biệt, năm 2018, lần đầu tiên Việt Nam có tên trong bảng xếp hạng đại học thế giới.

Về tình hình việc làm, theo kết quả khảo sát độc lập 25.000 sinh viên tốt nghiệp sau 12 tháng của 50 trường đại học do Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục - ĐHQGHN thực hiện, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm trung bình là 84% (chưa tính số người đi học tiếp), nhiều trường đạt từ 85 - 97%.

Những tồn tại và thách thức

Bên cạnh đó còn những tồn tại và thách thức cần giải quyết để tiếp tục đổi mới. Đó là sự thiếu đồng bộ và chậm trễ trong việc ban hành các chính sách liên quan hoặc trong thực hiện các đề án liên quan. Ví dụ, để thực hiện thành công chương trình phổ thông mới, cần có sự sửa đổi đồng bộ về quy định đào tạo bồi dưỡng, chế độ làm việc của giáo viên, quy chuẩn về cơ sở vật chất... tại tất cả các văn bản pháp quy liên quan. Việc ban hành chương trình giáo dục phổ thông mới bị chậm so với tiến độ.

Nguồn lực tài chính cho đổi mới GD - ĐT còn thiếu. Mặc dù chúng ta rất cố gắng thực hiện mức chi cho giáo dục 20% ngân sách, tuy nhiên, do quy mô ngân sách nhỏ, nên so với nhu cầu của một nền giáo dục đang phát triển, dân số đông và trẻ, đang độ tuổi đi học, ngân sách giáo dục thực tế thấp hơn nhiều, khó để tạo ra bứt phá. Ngân sách cho giáo dục cơ bản chỉ để trả lương, các dạng đầu tư khác rất hạn chế. Viện trợ không hoàn lại, nguồn ODA cho giáo dục trong ba năm gần đây cũng giảm mạnh. Nguồn lực tài chính để giải quyết những bức xúc liên quan đến cơ sở vật chất, như xây mới trường học đáp ứng nhu cầu học tập gia tăng, kiên cố hóa trường học, hay thậm chí là nâng cấp, cải thiện nhà vệ sinh trường học còn thiếu. Sự e ngại về gia tăng nợ công dẫn đến một số chính sách hỗ trợ cho giáo dục khó được thông qua, ví dụ, như chính sách lương đối với nhà giáo, hay một số đề án quan trọng khác.

Đồng thời cũng cần phải nói tới năng lực đội ngũ quản lý giáo dục, nhà giáo các cấp còn yếu, chưa theo kịp với tiến trình đổi mới. Chất lượng giáo dục đại học còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như so với mặt bằng các nước trong khu vực và trên thế giới. Chưa có trường nào lọt được vào nhóm 500 trường hàng đầu thế giới. Các nghiên cứu khoa học chưa có tính ứng dụng cao, chưa có nhiều đóng góp vào nền kinh tế. Chỉ số công bố quốc tế còn thấp hơn nhiều so với các nước phát triển trong khu vực.

GS.TS. Nguyễn Quý Thanh - Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội
Xem tin theo ngày:
GIÁO DỤC
07:55 22/10/2018
Trong khuôn khổ chương trình Nghiên cứu trọng điểm về khoa học giáo dục, nhóm nghiên cứu của Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đã khảo sát xã hội học hơn 4.000 người liên quan về những chuyển biến trong giáo dục và đào tạo. Nhóm đã thực hiện phân tích và đối sánh với dữ liệu nền năm 2013 ở những chỉ số tương ứng, hoặc với mục tiêu chính sách và thấy rằng, đã có chuyển dịch tích cực thực sự trong giáo dục Việt Nam.
Quay trở lại đầu trang