VĂN HÓA - GIÁO DỤC
Cập nhật 11:40 | 21/10/2018 (GMT+7)
.
Cơ chế tài chính cho đại học công lập

Nhà nước bảo đảm cơ sở vật chất

09:01 | 10/08/2018
Từ phân tích cơ chế tự chủ tài chính cũng như kinh nghiệm quốc tế, xin đề xuất một số kiến nghị về hoàn thiện cơ chế tài chính cho đại học công lập tại Việt Nam.

Giảm số lượng trường công

Thứ nhất, theo chúng tôi, cùng với thực hiện cơ chế tự chủ đại học nói chung, Việt Nam cần hoàn thiện cơ chế tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học công lập. Với tên gọi là cơ sở đào tạo công lập hay trường công có nghĩa là phải có sự đầu tư của Nhà nước. Tuy nhiên, hiện số lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập của Việt Nam là quá lớn trong bối cảnh nguồn chi ngân sách nhà nước cho giáo dục bị eo hẹp. Theo số liệu tham khảo một số trường đại học công lập và tư thục, chi phí đơn vị của Việt Nam tương đương 450 - 700 USD/năm, bằng 20 - 30% GDP bình quân đầu người của năm 2016, trong khi theo số liệu của Ngân hàng Thế giới năm 2005, ở các nước OECD, GDP/người khoảng 24.000 USD (2005), chi phí đơn vị 12.000/sinh viên, chiếm 50% GDP/người; Thái Lan thu nhập bình quân/người năm 2005 là 2.900 USD, chi phí đơn vị bình quân cho sinh viên đại học là 3.000 USD, chi phí đơn vị lớn hơn 100% GDP/người.

So với các nước trong khu vực, chi phí đơn vị của Việt Nam quá thấp, vì vậy chi đầu tư cho cơ sở vật chất sẽ thấp. Muốn nâng cao chất lượng đào tạo, yêu cầu đặt ra cũng phải tăng đầu tư cơ sở vật chất và đội ngũ tương thích với đổi mới chương trình đào tạo. Vì vậy, trường đại học công lập muốn tồn tại và bảo đảm chất lượng phải có mức đầu tư tương ứng. Vậy nguồn tài trợ cho các trường đại học công lập lấy từ đâu?

Trong bối cảnh ngân sách nhà nước hạn hẹp, giải pháp tốt nhất là giảm số lượng trường công. Muốn gia tăng mức đầu tư cho trường công lập để nâng cao chất lượng đào tạo cần hai nguồn chính là (1) ngân sách nhà nước; và (2) học phí. Để tăng đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước cho các cơ sở giáo dục đại học công lập, Nhà nước cần có chương trình tái cấu trúc khu vực các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập nói chung, đại học công lập nói riêng. Theo đó, cần phân loại, sắp xếp tầm quan trọng các ngành đào tạo mà Nhà nước phải đầu tư, phân loại theo ngành học thuộc khoa học cơ bản, các ngành thuộc khoa học ứng dụng, hay nói cách khác, các ngành học phi thị trường không có tính cạnh tranh và ngành học thị trường có tính cạnh tranh; phân loại các trường định hướng nghiên cứu và trường đào tạo thực hành, phục vụ nhu cầu thị trường; các trường công theo nguồn gốc hình thành, theo cấp quản lý. Từ việc phân loại theo các tiêu chí trên, sẽ đưa ra các mô hình tự chủ về tài chính theo loại trường: Loại trường Nhà nước cần đầu tư và mức độ đầu tư (theo 3 mức độ); loại trường Nhà nước không đầu tư cần chuyển cho tư nhân để giảm gánh nặng ngân sách đầu tư.

Chia sẻ chi phí

Thứ hai, trao quyền tự chủ tài chính cho các trường trong xác định mức học phí để bù đắp chi phí đầu tư từ Nhà nước còn thấp. Gia tăng học phí được xem như một giải pháp chủ yếu nhằm chia sẻ chi phí giáo dục. Tài chính dành cho giáo dục nghề nghiệp của các nước đang phát triển như Việt Nam đối mặt với rất nhiều thách thức và khó khăn. Tuy nhiên, hầu hết các chính phủ đều sử dụng phương thức cùng “chia sẻ chi phí” (cost sharing) giữa chính phủ và người học, “thị trường hóa” đào tạo nhân lực.

Thường các trường công lập được Nhà nước tài trợ nên mức học phí cũng thấp hơn học phí ở các trường tư, mức độ cách biệt học phí tùy vào từng ngành nghề và mức đầu tư của Nhà nước. Các trường sẽ đưa ra mức học phí cạnh tranh và cam kết các điều kiện dạy và học cũng như chất lượng đầu ra với người học.

Sửa đổi các quy định pháp luật

Thứ ba, dù là được Nhà nước đầu tư với mức độ khác nhau, và khi các trường đại học công lập bảo đảm các tiêu chí về năng lực tự chủ đại học, thì có thể giao tự chủ hoàn toàn về tài chính (được quyền quyết định nguồn thu, các khoản chi, đầu tư, trả công…). Ví dụ, ở Singapore có 3 trường đại học lớn là Đại học Quốc gia Singapore (National University of Singapore - NUS), Đại học Công nghệ Nanyang (Nanyang Technological University - NTU), Đại học Quản trị Singapore (Singapore Management University - SMU) được tự chủ hoàn toàn nhưng vẫn nhận ngân sách tài trợ từ Chính phủ. Các đại học này tự chủ về quản trị, học phí, tiêu chuẩn tuyển sinh, trả lương cho cán bộ giảng viên, sử dụng và phát triển hiệu quả nguồn tài chính hướng đến phát triển học thuật và tất cả vì danh tiếng nhà trường. Hội đồng trường được trao quyền giám sát và thực thi các mục tiêu theo chiến lược của Chính phủ và kiểm soát hệ thống bảo đảm chất lượng. Rõ ràng, cơ chế tự chủ, đặc biệt là cơ chế tự chủ tài chính của Singapore có rất nhiều ưu điểm, đã phát huy được quyền làm chủ của trường đại học gắn với cơ chế giải trình.

Qua kết quả khảo sát, các trường đang thực hiện tự chủ đại học tại Việt Nam đều gặp khó khăn liên quan đến các luật hiện hành. Quy chế tự chủ đại học ghi trong quyết định của Chính phủ là được tự chủ nhưng phải tuân thủ pháp luật Việt Nam. Trong khi đó nhiều điều luật không ủng hộ việc tự chủ. Đây là vấn đề mâu thuẫn. Ví dụ, tự chủ về tài chính, dùng tiền không phải từ ngân sách nhà nước nhưng vẫn phải tuân thủ luật đầu tư, chi tiêu công… Do đó, để các trường công có quyền tự chủ hoàn toàn về tài chính, cần sửa đổi các điều luật có liên quan.

Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất

Thứ tư, kinh nghiệm của các nước như đã nêu, dù là tăng học phí để giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, nhưng Nhà nước vẫn phải bảo đảm nguồn đầu tư cơ sở vật chất cho các trường công thì chất lượng đào tạo mới được bảo đảm. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nói chung, và đại học công lập nói riêng là hoạt động phi lợi nhuận. Như vậy, có nên chăng có loại hình trường theo mô hình doanh nghiệp đối với trường đại học công lập theo cơ chế hiện hành? Nếu có loại này thì có gọi là trường công? Vì vậy, theo chúng tôi nên bỏ quy định này.

GS.TS. Nguyễn Thị Cành - TS. Đoàn Thị Phương Diệp
Xem tin theo ngày:
GIÁO DỤC
08:37 29/09/2018
Theo ĐBQH, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo (GD - ĐT) Vĩnh Long Nguyễn Thị Quyên Thanh, để Kỳ thi THPT Quốc gia những năm sau diễn ra tốt hơn, cần đặc biệt quan tâm lựa chọn nhân sự. Đó phải là người có tâm, tuân thủ những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, có ý thức chấp hành pháp luật tốt và nêu cao tinh thần trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Quay trở lại đầu trang