VĂN HÓA - GIÁO DỤC
Cập nhật 16:49 | 20/06/2019 (GMT+7)
.

Lần theo câu ví

08:45 | 28/09/2013
Hát ví là đặc sản, là tiếng hát tâm tình của người dân xứ Nghệ. “Trót say câu ví đò đưa/ Cũng đành cà mặn, nhút chua một đời” - không chỉ người Nghệ say làn điệu ví xứ mình mà không ít người xứ khác vì say câu ví xứ Nghệ nên cả một đời đã gắn bó với vùng đất cà mặn, nhút chua này…

Nguồn: radiovietnam.vn

Những ngày đầu thu, chúng tôi tìm về Hà Tĩnh để được đắm mình vào mạch nguồn văn hóa - nơi sản sinh và dung dưỡng những câu hò điệu ví...

Lần theo câu ví, tôi tìm…

Chúng tôi tìm về xã Trường Lộc, huyện Can Lộc vào một ngày chớm thu. Hỏi đám trẻ con trong làng về nghệ nhân Trần Thị Lý - một trong hai nghệ nhân của xã đã được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phong tặng thì hầu như ai cũng biết và nhiệt tình hướng dẫn đường cho tôi.

Bà Lý ra đón tôi với nụ cười cởi mở, hiền hậu. Bên ấm chè xanh, bà hồi ức  làng Trường Lưu thửa trước nổi tiếng về nghề kéo sợi dệt vải và hát ví phường vải theo đó hình thành, phát triển từ đây. Thời ấy, con gái Trường Lưu vừa đẹp người, đẹp nết lại chăm chỉ dệt lụa quay tơ nên các nam thanh, nho sĩ trong vùng đều muốn tới thăm, trước là để thử tài, sau thì cân sắc. Dần dà, Trường Lưu trở thành một trong những tụ điểm hát phường vải có tiếng tăm của vùng văn hóa Xứ Nghệ. Người dân Trường Lộc luôn tự hào vì trong các lối hát ví thì hát phường vải Trường Lưu là lối hát chặt chẽ, quy củ nhất và có luật của lối hát giao duyên. Không như các lối hát khác mang tính đại chúng thì hát phường vải khắt khe hơn, có cả sự tham gia của các nhà nho, các vị khoa bảng, các cậu học trò.

Chuỗi ngày tuổi thơ bà Lý đã được theo cha đi nghe rồi học lỏm, khúc hát dân ca, điệu hò câu ví cứ lôi cuốn bà đến kỳ lạ, như một mối lương duyên được sắp đặt từ trước. Giờ đây dù tuổi đã cao nhưng trong bà vẫn còn cháy bỏng tình yêu dân ca ví giặm và đau đáu nỗi niềm về nguy cơ thất truyền hát ví phường vải. Bởi ở Trường Lưu bây giờ không còn làng nghề dệt vải nữa. Không gian diễn xướng không còn, lớp nghệ nhân trước chỉ đếm trên đầu ngón tay, người ở làng giờ không mấy ai biết đến hát ví. Trong lúc chuyện trò không ít lần bà Lý thở dài… Có lẽ bà đang tiếc nuối về một thời cả làng đều hát ví, giờ đang dần đi vào quên lãng.

Chia tay nghệ nhân Trần Thị Lý, chúng tôi lại ngược ra phía Bắc Hà Tĩnh, tìm về làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân - một làng nổi tiếng về khoa cử và những câu ví phường nón. Làng Tiên Điền trước đây cho đến những năm 1965 có nghề khâu nón lá. Theo các cụ cao niên trong làng kể thì ngày xưa, vào những đêm trăng tỏ hay bên ánh đèn dầu, trai làng cùng các chị thợ áo tơi (áo làm bằng lá cọ, mang trên người để che mưa, che nắng), thợ nón, lấy nghề làm áo tơi, làm nón ra để ví von mà quên đi cái vất vả mệt nhọc, thể hiện chút tơ lòng đôi lứa và tình yêu quê hương, đất nước.

Được sự chỉ dẫn của Phó trưởng Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Nghi Xuân Nguyễn Long Thiên, chúng tôi tìm đến nhà bà Nguyễn Thị Thê, là thành viên câu lạc bộ dân ca ví giặm ở địa phương. Ngôi nhà đơn sơ tràn ngập tiếng hát của trẻ con vì bà bà Thê đang dạy mấy người cháu hát ví. Có lẽ bà đang cố gắng truyền dạy cho thế hệ sau này, để một mai lớp nghệ nhân như bà có “khuất núi” thì hát ví cũng không rơi vào quên lãng. Theo bà, nghe các cụ kể lại làng Tiên Điền ngày trước lúc nào cũng rộn ràng câu hát ví. Hát ví là món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân nơi đây... Vừa trò chuyện với chúng tôi, bà Thê vừa sửa giọng cho mấy cháu nhỏ. Giọng bà cất lên nghe tha thiết, lắng sâu, như nhắn nhủ, như nỉ non tâm sự, tưởng như người hát, hát cho người khác nghe thì ít mà hát để bộc lộ nỗi lòng của mình thì nhiều.

Bên sông ai ví chiều nay…

Nếu ai đó đã từng nghe hát ví thì chắc hẳn đều có chung một suy nghĩ, đó là ca từ rất bình dị, đậm chất địa phương nhưng lại thể hiện được cái nồng nàn, ấm áp, sâu lắng. Với hơn 15 làn điệu độc đáo, ví là một hệ thống làn điệu tiêu biểu nhất của dân ca xứ Nghệ.  âm hưởng của làn điệu dân ca ví, giặm khi lên bổng, khi xuống trầm nhưng rất thiết tha, sâu lắng. Theo đó, trong từng điệu hò, câu ví ẩn hiện, thấp thoáng đâu đó tính cách của người xứ Nghệ vừa chân chất, mộc mạc, vừa quyết liệt, rắn rỏi lại vừa sâu sắc, trữ tình…

Trong lao động sản xuất, những hát ví, hát giặm như là một phương thuốc tinh thần, đồng thời là phương tiện để tạo lập và tổng hợp sức mạnh của tập thể, cộng đồng. Người ta hát để lao động hăng say, hiệu quả hơn, quên đi cái vất vả, mệt nhọc. Còn trong sinh hoạt văn hóa, ví, giặm là một sản phẩm của cộng đồng; là phương tiện để vui chơi, giải trí trong những dịp hội hè, đình đám; những đêm trăng thanh gió mát cùng bạn bè giao du, thưởng thức hay thi thố tài năng văn chương. Tất cả đều kết tinh lại bằng những câu ca giản dị, những giai điệu thuần khiết, chan chứa tình nghĩa, thấm đậm chất nhân văn.

Mặc dù vậy, đến nơi đâu, chúng tôi cũng cảm nhận được điều trăn trở của những nghệ nhân dân ca xứ Nghệ đó là nguy cơ thất truyền của điệu ví, câu hò. Lớp người biết hát ví, giặm bây giờ hiếm như lá mùa thu và tuổi của họ cũng đã xế chiều. Lớp trẻ một thời theo nhau lớn lên từ điệu hò câu ví nhưng đáng buồn là giờ nhiều người không còn nhớ, còn thuộc lấy một câu hát ví. Thị hiếu âm nhạc đã thay đổi nhiều do ảnh hưởng của các dòng âm nhạc hiện đại, câu hò, điệu ví cũng theo đó bị lãng quên… Bên cạnh đó, cái cần nhất là làm sao khôi phục được không gian, môi trường diễn xướng của dân ca ví, giặm. Người dân ở Tiên Điền, Trường Lưu cũng như người dân đôi bờ sông La, sông Lam đều mong muốn có nhiều cuộc thi giữa các xã, các huyện với nhau để bà con có không gian hát ví cho nhau nghe và truyền lại cho cháu con.

Theo Phó giám đốc Sở VH, TT và DL Hà Tĩnh Phan Thư Hiền: ngày xưa việc hát ví giặm là một nhu cầu tự nhiên, gắn liền với hoạt động nghề nghiệp, hát để động viên nhau trong lao động sản xuất. Còn bây giờ, khi không gian xưa không còn, các làng nghề cũng đã mai một, thì việc hát dân ca cũng tách rời nhu cầu sống của con người. Môi trường diễn xướng không còn nữa nên đòi hỏi chúng ta phải tái tạo lại, phải được “sân khấu hóa” mới có thể phổ biến, đưa dân ca ví, giặm vào đời sống của nhân dân.

Còn theo Nhà nghiên cứu văn hóa Thái Kim Đỉnh: để bảo tồn được dân ca ví giặm, quan trọng nhất vẫn là phải để ví, giặm sống được trong dân gian. Nhưng để xác định được đâu là vấn đề cần bảo tồn nguyên dạng, đâu là vấn đề cần phát huy, là vấn đề vô cùng lớn và khó khăn, đòi hỏi các cấp chính quyền và ngành văn hóa cần tìm tòi, tổ chức và nhân rộng những mô hình hoạt động phù hợp. Tôi nghĩ rằng cần có những nghiên cứu chuyên sâu về môi trường văn hóa, tâm lý, thị hiếu âm nhạc của công chúng đương đại để làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp bảo tồn, phát huy di sản dân ca cổ truyền. Hơn nữa, cần đầu tư thỏa đáng cho việc bảo tồn và phát triển dân ca ví, giặm; tổ chức tuyên truyền, quảng bá rộng rãi dân ca ví, giặm dưới nhiều hình thức và phương tiện chuyển tải...

Mới đây, một tin vui đến với người dân và những người làm công tác văn hóa xứ Nghệ, tại Liên hoan Dân ca ví, giặm lần thứ II, tổ chức vào trung tuần tháng 8.2013, hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã vinh dự đón Bằng công nhận Dân ca ví, giặm xứ Nghệ - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Hiện, hai tỉnh đang hoàn chỉnh hồ sơ để trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Được UNESCO vinh danh là niềm vinh dự lớn, nhưng điều quan trọng là phải làm thế nào để điệu hò câu ví luôn sống mãi với thời gian, sống mãi trong đời sống văn hóa của người dân xứ Nghệ và của dân tộc.

Anh Thơ
Xem tin theo ngày:
GIÁO DỤC
18:14 01/02/2019
Xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, chính vì vậy những năm qua, huyện Than Uyên, Lai Châu đã nỗ lực huy động mọi nguồn lực cũng như thực hiện chương trình xã hội hóa giáo dục, đầu tư cơ sở vật chất trường lớp học, trang thiết bị đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.
Quay trở lại đầu trang