QUỐC TẾ
Cập nhật 07:28 | 22/08/2019 (GMT+7)
.
Nghị sĩ Nhật Bản

Nguyên tắc không kiêm nhiệm

08:32 | 23/06/2019
Với trọng trách đại diện của dân, các nghị sĩ Nhật Bản từ khi còn là các ứng viên đã phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn, điều kiện nhất định. Sự chặt chẽ trong quá trình bầu cử là nhằm bảo đảm lựa chọn được các thành viên Quốc hội đủ tài, đủ đức, toàn tâm toàn ý với nhiệm vụ được giao.

Hạ viện Nhật Bản gồm 480 thành viên, được bầu theo nhiệm kỳ 4 năm. Tuy nhiên, theo Luật Bầu cử năm 2013, số thành viên giảm xuống còn 475 người kể từ lần bầu cử vào tháng 12.2016. 295 trong số này được bầu từ 295 đơn vị bầu cử theo đa số trên toàn nước Nhật, 180 thành viên còn lại được bầu theo nguyên tắc đại diện theo tỷ lệ từ 11 khu vực bầu cử (mỗi đơn vị sẽ được bầu từ 6 - 29 hạ nghị sĩ).

Để thực hiện quyền ứng cử vào Hạ viện, các ứng cử viên có thể ứng cử độc lập hoặc ứng cử theo danh sách giới thiệu của các đảng chính trị, song đều phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Chẳng hạn như phải là công dân Nhật Bản và từ đủ 25 tuổi trở lên. Những người giữ các vị trí trong các cơ quan công quyền bị kết tội nhận hối lộ trong thời gian tại chức thì trong thời gian chấp hành hình phạt không được tham gia ứng cử. Thậm chí, 5 năm sau khi chấp hành xong hình phạt cũng chưa được quyền ứng cử đại biểu Hạ viện.

Theo Luật Bầu cử Nghị viện, nghị sĩ Nhật Bản không được đồng thời là nghị sĩ của cả hai viện cũng như không được kiêm nhiệm vị trí công chức ở cả trung ương và địa phương, trừ các vị trí Thủ tướng, Bộ trưởng, Phó Tổng thư ký Nội các, Trợ lý Thủ tướng, Thứ trưởng thường trực, Thứ trưởng và các vị trí khác được pháp luật quy định. Các cấp lãnh đạo của Nghị viện không được đồng thời là công chức nội các và công chức chính quyền địa phương, trừ một số trường hợp pháp luật cho phép. Bên cạnh đó, những nghị sĩ vốn đang là công chức nội các hoặc công chức chính quyền địa phương khi được bầu vào các vị trí lãnh đạo của Nghị viện thì coi như được miễn khỏi vị trí kiêm nhiệm kia.


Một phiên họp của Quốc hội Nhật Bản

Tuy nhiên, nếu có quyết định thống nhất của cả hai viện, trong nhiệm kỳ, nghị sĩ có thể đảm nhiệm vị trí ủy viên, cố vấn, cố vấn đặc biệt và các chức danh tương đương ở các bộ phận hành chính của nội các. Ngoài ra cũng có quy định về việc nghị sĩ kiêm nhiệm một số vị trí lãnh đạo ở các doanh nghiệp, tổ chức nhất định.

Quy định nghị sĩ không kiêm nhiệm công việc khác bắt nguồn từ lý do bảo đảm các nhánh quyền lực độc lập, bình đẳng theo thuyết tam quyền phân lập, theo đó các cơ quan quyền lực không can thiệp, xâm phạm quyền hạn của nhau, đồng thời nghị sĩ là đại diện của nhân dân, được uỷ thác công việc chính trị đất nước nên việc tập trung, chuyên tâm vào công việc đó là nhiệm vụ chính trị của từng nghị sĩ.

Người ứng cử làm Hạ nghị sỹ phải nộp một khoản tiền đặt cọc (từ 3 - 6 triệu yên tùy theo hình thức ứng cử). Nếu không nhận đủ tỷ lệ phiếu nhất định, khoản tiền cọc này sẽ bị sung vào công quỹ.

Thượng viện Nhật Bản có 242 thành viên, được bầu theo nhiệm kỳ 6 năm. Cứ mỗi 3 năm sẽ tiến hành bầu lại 1/2 tổng số thượng nghị sĩ. Điều kiện đối với người ứng cử làm thành viên Thượng viện cũng tương tự như đối với ứng cử làm thành viên Hạ viện, trừ yêu cầu người ứng cử phải từ đủ 30 tuổi trở lên. Thủ tướng, các Bộ trưởng trong nội các, một số công chức trực tiếp tham mưu, giúp Thủ tướng, các Bộ trưởng và nội các có thể được ứng cử làm thành viên Thượng viện.

Việc bầu cử thành viên của Thượng viện kết hợp giữa phương thức đại diện tỷ lệ theo danh sách mở và phương thức đơn vị bầu cử theo đơn vị tỉnh. Như vậy, sẽ có 146 thượng nghị sĩ được bầu từ 47 đơn vị bầu cử (tương ứng với 47 đơn vị cấp vùng hay tỉnh của Nhật Bản) và 96 thượng nghị sĩ được bầu theo nguyên tắc đại diện theo tỷ lệ chung trên phạm vi toàn quốc (không chia theo đơn vị bầu cử) tương tự như đối với bầu hạ nghị sĩ. Trong phiên họp toàn thể ngày 18.7.2018, Hạ viện Nhật Bản đã thông qua dự Luật Bầu cử công sửa đổi, theo đó cho phép tăng thêm 6 ghế tại Thượng viện nhằm khắc phục tình trạng chênh lệch tỷ lệ cử tri/số ghế giữa các khu vực bầu cử trên cả nước. Theo đó, Thượng viện sẽ tăng thêm 3 ghế trong cuộc bầu cử vào năm 2019 và tăng thêm 3 ghế nữa vào năm 2022. Như vậy, sau khi tăng 6 ghế, cuộc bầu cử Thượng viện Nhật Bản sẽ có 148 đơn vị bầu cử, số lượng nghị sĩ Thượng viện tăng từ 242 lên 248, trong đó số lượng thượng nghị sĩ được chọn định theo tỷ lệ phiếu bầu của các đảng tại mỗi khu vực sẽ tăng từ 96 lên 100.

Cử tri bỏ 2 lá phiếu, một theo phương thức đại diện tỷ lệ và một theo phương thức đơn vị bầu cử. Theo phương thức đại diện tỷ lệ, cử tri sẽ viết tên của ứng cử viên có trong danh sách ứng cử viên do các đảng nộp lên hoặc viết tên đảng rồi bỏ phiếu. Số phiếu giành được của mỗi đảng sẽ bằng số phiếu ghi tên đảng cộng với số phiếu ghi tên cá nhân, số ghế được phân bố theo tỷ lệ theo phương pháp D’ Hondt tương ứng với số phiếu giành được của mỗi đảng giống như ở cuộc bầu cử Hạ viện. Thứ tự các ứng cử viên trong nội bộ chính đảng được xác định bằng số phiếu giành được theo tên cả nhân và người trúng cử được xác định theo thứ tự từ trên xuống căn cứ trên số ghế mà mỗi đảng được phân bổ. Mặt khác, ở phương thức đơn vị bầu cử, mỗi địa phương cấp tỉnh được phân bổ từ 2 đến 10 chỉ tiêu. Số lượng nghị sĩ phải bầu lại sau 3 năm theo phương thức này là một nửa trên tổng số, tức 73 người.

Trong trường hợp khuyết nghị sĩ trong nhiệm kỳ và việc đó diễn ra trong khoảng thời gian 3 tháng kể từ ngày bầu cử, vị trí khuyết trên sẽ được thay thế bằng ứng cử viên tiếp theo trong danh sách của cùng đảng có nghị sĩ bị khuyết nếu nghị sĩ này được bầu theo nguyên tắc đại diện theo tỷ lệ. Trường hợp thượng nghị sĩ bị khuyết là người được bầu từ đơn vị bầu cử địa phương (theo nguyên tắc đa số), người thay thế sẽ là ứng cử viên chưa trúng cử đã nhận được số phiếu nhiều tiếp theo trong cuộc bầu cử đã tiến hành trước đó (với điều kiện số phiếu này phải đạt mức tối thiểu mà pháp luật đã quy định, tức là lớn hơn hoặc bằng 1/6 tổng số phiếu hợp lệ).

Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang