QUỐC TẾ
Cập nhật 07:38 | 20/06/2019 (GMT+7)
.

Khích lệ ý thức tự giác

09:47 | 15/04/2019
Các quy định pháp luật về quản lý thuế trên thế giới có phạm vi bao phủ rộng và thường được đánh giá là phức tạp, khó hiểu. Chính sách, pháp luật về quản lý thuế ở mỗi nước cũng mang đặc trưng riêng, tùy thuộc vào hệ thống chính trị, môi trường lập pháp cũng như điều kiện kinh tế. Tuy nhiên, thông lệ chung là giảm chi phí, đơn giản hóa thủ tục đăng ký thuế, khuyến khích ý thức tự giác chấp hành của người nộp thuế.

Khai báo ngắn gọn

Nhiều nước chỉ yêu cầu người nộp thuế khai báo những thông tin ngắn gọn, cần thiết nhất cho công tác quản lý thuế như: Tên, địa chỉ, thông tin liên hệ của người nộp thuế; địa vị pháp lý; thông tin về đăng ký kinh doanh; loại hình kinh doanh; năm tài chính; doanh thu năm thực tế hoặc dự tính; các loại thuế phải đóng… Dữ liệu đăng ký thuế được khai theo mẫu quy định. Cơ quan thuế sẽ cấp mã số thuế và chứng nhận đăng ký thuế cho người nộp thuế.

Ở Trung Quốc, người nộp thuế phải thực hiện đăng ký thuế trong vòng 30 ngày sau khi được cấp giấy phép kinh doanh. Tờ khai đăng ký thuế gồm các nội dung: Tên doanh nghiệp, số CMND của người đại diện, địa chỉ, loại hình đăng ký, phương pháp kế toán, loại hình sản xuất kinh doanh, phạm vi sản xuất kinh doanh, vốn đăng ký/vốn đầu tư, thời gian sản xuất kinh doanh, thông tin liên lạc của người phụ trách tài chính… Thông thường, người nộp thuế phải nộp bản cứng tờ khai đăng ký thuế, tuy nhiên, một số cơ quan thuế địa phương có thể yêu cầu nộp bản điện tử. Cơ quan thuế sẽ xử lý và cấp cho người nộp thuế giấy chứng nhận đăng ký thuế vào ngày hồ sơ đăng ký thuế được nộp. Người nộp thuế nộp đăng ký thuế muộn hơn thời gian quy định sẽ bị nộp phạt (mức cao nhất lên đến 10.000 NDT).

Ở Ấn Độ, tờ khai đăng ký thuế có thể thực hiện qua mạng nhưng vẫn bắt buộc gửi kèm bản cứng có chữ ký cùng giấy tờ liên quan. Cơ quan thuế sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế cho người nộp thuế.

Ở Indonesia, hồ sơ đăng ký thuế được nộp bằng bản cứng theo mẫu do cơ quan thuế quy định. Sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ, cơ quan thuế sẽ tiến hành xác minh và cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế trong vòng 5 ngày làm việc. Trong quá trình xác minh, cơ quan thuế có thể đến kiểm tra trực tiếp tại trụ sở của người nộp thuế.

Xử phạt tương xứng

Mặc dù các quy định pháp luật về quản lý thuế ở nhiều nước chú trọng tới đơn giản hóa thủ tục, song các quy định pháp luật về quản lý thuế cũng quy định chi tiết và chặt chẽ những hành vi vi phạm về thuế, cũng như việc xử phạt các vi phạm này.

Hầu hết các quốc gia đều có quy định xử phạt vi phạm pháp luật với các hành vi không nộp tờ khai thuế đúng hạn, không nộp thuế đúng hạn, không báo cáo chính xác nghĩa vụ thuế... Mức xử phạt khác nhau tương ứng với từng vi phạm. Cụ thể, đối với hành vi chậm nộp thuế, có nước đưa ra mức lãi suất nộp phạt theo năm (Bỉ, Phần Lan, Italy); tháng (Đức, Luxumbour, Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ) hoặc ngày (Australia, Séc, Ireland, Hàn Quốc). Đối với nộp phạt hành chính, các nước thường khống chế tỷ lệ % theo số thuế phải nộp như Áo là 10%; Canada là 5% + 1% cho mỗi tháng nộp chậm... Đối với lãi suất phạt chậm nộp thuế cơ bản là dưới 0,05%/ngày như: Ireland và Hàn Quốc là 0,03%...

Tại Philippines và Thái Lan, đối với hành vi khai thuế giả mạo hoặc gian lận hoặc không nộp tờ khai thuế, thời hiệu xử phạt là 10 năm kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Tại Indonesia, theo Luật Quản lý thuế hiện hành, đối với hành vi gian lận nộp thiếu số tiền thuế, thời hiệu xử phạt là 5 năm kể từ thời điểm bắt đầu nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế.

Tại Pháp, trong trường hợp trốn thuế, thủ tục tố tụng hình sự có thể được tiến hành trong 6 năm kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện. Tại Bỉ, trong trường hợp vi phạm pháp luật liên quan đến thuế thu nhập, có hành vi gian lận và có ý định trốn thuế, thời hiệu xử phạt là 7 năm. Tại Thụy Sỹ, trong trường hợp trốn thuế, thời hiệu xử phạt là 10 năm kể từ ngày hành vi vi phạm thực hiện.

Nghiên cứu kinh nghiệm các nước cũng cho thấy, trong trường hợp đối tượng nộp thuế vi phạm và làm phát sinh nợ thuế, phần lớn các quốc gia hiện nay sử dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi nợ thuế đối với người đứng đầu quản lý doanh nghiệp khi vi phạm luật thuế (Australia, Campuchia, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, New Zealand, Philippines, Luxembourg...). Ngoài ra, các quốc gia cũng sử dụng biện pháp tịch thu tài sản của chủ nợ (Philippines, Trung Quốc, Malaysia, New Zealand, Singapore, Thái Lan...).

Tại Nhật Bản, theo Luật Thu thuế quốc gia, biện pháp cưỡng chế thuế đối với các khoản nợ thuế chưa được thanh toán kể từ ngày hết hạn nộp thuế bằng cách tịch thu tài sản hoặc chuyển đổi tài sản của người nộp thuế thành tiền, đấu giá tài sản thành tiền mặt. Các thủ tục thực hiện như sau: Cơ quan thuế gửi thư thông báo thu các khoản thuế quá hạn trong vòng 50 ngày kể từ ngày hết hạn nộp thuế. Nếu thanh toán không được thực hiện trong vòng 10 ngày kể từ ngày ra thông báo, cơ quan thuế bắt đầu tiến hành các biện pháp cưỡng chế thuế mà không cần có giấy phép của tòa án.

Tại Hàn Quốc, theo Luật Thu thuế quốc gia, biện pháp cưỡng chế thuế theo hình thức thu hồi tài sản của người nộp thuế được thực hiện khi người nộp thuế không nộp tờ khai thuế hoặc không nộp thuế. Theo đó, cơ quan thuế thực hiện Thông báo yêu cầu thanh toán gửi trực tiếp đến đối tượng không nộp đủ thuế vào ngày đến hạn. Nếu người nộp thuế không nộp tờ khai thuế vào ngày ghi trong Thông báo, cơ quan thuế có quyền yêu cầu cưỡng chế đối với tài sản gắn liền với người nộp thuế (tài sản lưu động, chứng khoán; bất động sản; tài sản đang bị khiếu kiện và các quyền tài sản khác). Nếu tài sản của người chậm nộp thuế có liên quan quan đến thủ tục thanh lý phá sản thì cơ quan thuế có thể yêu cầu một phần tiền thu được từ việc bán tài sản đó...

Nhật An
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang