QUỐC TẾ
Cập nhật 00:14 | 22/01/2019 (GMT+7)
.
Giáo dục đại học ở Mỹ

Điều gì làm nên khác biệt?

08:06 | 09/12/2018
Nhà giáo dục học nổi tiếng Gunnar Myrdal từng nói: “Trong suốt chiều dài lịch sử của nước Mỹ, giáo dục luôn là niềm hy vọng lớn lao để cải biến từng cá nhân và xã hội”. Phần lớn các nhà sử học đều nhất trí rằng, rất nhiều tiến bộ về kinh tế, chính trị, khoa học và văn hóa nước Mỹ đạt được trong lịch sử khá ngắn ngủi của mình là nhờ vào sự phát triển của giáo dục.
Là đất nước có nền giáo dục phát triển mạnh mẽ và mang tính thực tiễn cao, với hệ thống các trường đại học tốt nhất thế giới, với chính sách “trải thảm đỏ” mời gọi sinh viên nước ngoài mong muốn du học ở Mỹ những năm gần đây, số lượng du học sinh nước ngoài ở Mỹ đã không ngừng tăng và luôn dẫn đầu thế giới. Theo Báo cáo Open Doors của Viện Giáo dục Quốc tế Hoa Kỳ (IIE), trong niên khóa 1954 -1955, số sinh viên quốc tế ở Mỹ là 34.000 sinh viên thì đến niên khóa 2003 - 2004 là hơn 572.000 sinh viên và niên khóa 2006 - 2007 là 583.000 sinh viên đang học tập, nghiên cứu ở Mỹ. 

Vì sao các trường đại học của Mỹ lại thu hút sinh viên quốc tế như vậy? Có thể lý giải trên cơ sở xem xét các đặc thù sau đây của nền đại học Mỹ.


Gắn với thị trường lao động

Mỹ có một nền đại học đa dạng, phong phú, mềm dẻo, tính thích nghi cao và gắn chặt với thực tiễn sản xuất và xã hội. Giáo dục đại học ở Mỹ chịu ảnh hưởng của thị trường lao động nhiều hơn là việc lập kế hoạch.  

Chương trình đào tạo bao gồm phần giáo dục đại cương, các môn tự chọn, các môn học bắt buộc và hệ thống tín chỉ xuyên suốt hệ thống đào tạo. Việc áp dụng hệ thống tín chỉ trong đào tạo là một sáng kiến quan trọng cho phép sinh viên có thể chủ động và linh hoạt trong các chương trình và cơ sở đào tạo. 

Tính cạnh tranh cao

Ý tưởng của người Mỹ về giáo dục đại chúng cho mọi người đi cùng với nhận thức rằng nước Mỹ cũng cần các chuyên gia có trình độ cao. Do đó, trong hệ thống giáo dục đại học và đặc biệt là các trường đào tạo sau đại học có một hệ thống chọn lọc cao và hết sức cạnh tranh. Mỗi trường đều có những quy định về tiêu chuẩn tiếp nhận sinh viên riêng của mình, nên các trường đại học tốt nhất cũng là những trường khó có thể tiếp nhận vào học nhất. Một số trường đại học tuyển chọn rất cẩn thận ngay cả ở các lớp hệ đại học hay lớp bắt đầu. Năm 1991, trường đại học California chỉ tiếp nhận 40% tổng số người xin học có đủ tiêu chuẩn, đối với trường Harvard con số này chỉ là 17,2%. 

Linh động và tự chủ

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ không có một hệ thống giáo dục toàn quốc, Hiến pháp không quy định trách nhiệm giáo dục của chính phủ liên bang, nên tất cả các vấn đề giáo dục đều thuộc về từng bang. Cho dù có một Bộ Giáo dục của liên bang nhưng chỉ có các chức năng: Thu thập thông tin, cố vấn và giúp đỡ tài chính cho các chương trình giáo dục nhất định. 

Pháp luật từng bang lại cho phép cộng đồng địa phương kiểm soát thực sự về mặt hành chính đối với các trường công. Có khoảng 15.300 khu vực trường học trong 50 bang. Ban giám hiệu gồm các công dân được bầu từ cộng đồng giám sát các trường học ở mỗi khu vực, và chính họ, chứ không phải bang, đề ra chính sách của trường học và quyết định thực sự sẽ dạy những nội dung gì.

Người quản lý trường học phải thể hiện mong muốn của địa phương và mối quan tâm về giáo dục khi họ được cộng đồng bầu ra. Tất cả các trường phổ thông hay các trường đại học đều có nhóm tự quản lý, hiệp hội hay ban bệ tín nhiệm và đều khá tự do trong việc quyết định những tiêu chuẩn tiếp nhận học sinh và những yêu cầu về tốt nghiệp riêng. Kết quả là sự đa dạng và rất linh hoạt trong hệ thống giáo dục đại học và sau đại học trong cả nước.  

Hàng năm, có hàng trăm công trình nghiên cứu kiểm tra khắt khe các trường học trên toàn quốc được công bố. Ở mỗi trường lại có các khoa nghiên cứu và đánh giá về giáo dục. Trong những giai đoạn nhất định, việc kiểm tra đánh giá này lại có phần khắt khe hơn. Những cuộc tranh luận của công chúng về chất lượng, nội dung và các mục tiêu giáo dục luôn diễn ra rộng lớn, công khai trên toàn nước Mỹ.

Cụ thể hóa các mục tiêu

Về cơ bản, người Mỹ luôn hướng tới cơ hội giáo dục bình đẳng, bất kể tầng lớp xã hội, nguồn gốc dân tộc, chủng tộc hay sắc tộc. Những ảnh hưởng về văn hóa đối với giáo dục của Mỹ cũng quan trọng không kém, nhưng khó xác định hơn. Trình độ giáo dục tổng thể cao luôn được xem như sự tất yếu trong hệ thống giáo dục ở Mỹ.

Giáo dục tại Mỹ cũng có truyền thống nhằm phục vụ mục tiêu tập hợp mọi người lại với nhau, tức là mục tiêu “Mỹ hóa”. Các trường học ở Mỹ đã phục vụ mục tiêu tập hợp lại hàng trăm nhóm văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc xã hội và chính trị đại diện cho hàng triệu người nhập cư khác nhau. 

Giáo dục góp phần cải tạo xã hội - làm giảm bớt khác biệt về nguồn gốc xã hội cũng như về sắc tộc hay chủng tộc đã và đang được nhiều người chấp nhận. Phần lớn các trường đại học công cũng như tư đều rất tích cực ủng hộ mục tiêu “đa dạng dân chủ” này và thể hiện điều đó trong lựa chọn sinh viên.

Mục tiêu lớn của giáo dục là một cách “làm cho bản thân trở nên tốt hơn”, hay “vươn lên trên thế giới này”, nó như là một phần căn bản của Giấc mơ Mỹ. Hàng triệu người nhập cư tới Mỹ thường gắn liền hy vọng của họ có được một cuộc sống tốt đẹp hơn với nền giáo dục tốt cho chính bản thân họ và quan trọng nhất là cho con cái họ. Bước khởi đầu - cho dù mục tiêu cuối cùng là tiền tài, danh vọng, quyền lực hay chỉ đơn giản là kiến thức - thường bắt đầu từ ngưỡng cửa trường đại học.

Sơ lược hệ thống giáo dục Mỹ

Ở Mỹ, chế độ giáo dục là bắt buộc và miễn phí cho đến 16 hoặc 18 tuổi. Mỗi bang tự tổ chức các trường học, gọi là trường công (public schools); chung cả nước có Văn phòng Giáo dục liên bang (Federal Office of Education). Nhìn chung hệ thống giáo dục Mỹ có các cấp như sau:
Trường mẫu giáo (nursery schools) và nhà trẻ (kin-dergarten) cho trẻ em từ 2 - 6 tuổi.

Trường tiểu học (primary schools) với 6 hoặc 8 năm cho độ tuổi từ 6 -12, hoặc 14.

Trường trung học (high schools) với 4 năm/lớp cho độ tuổi từ 12 - 18.

Các trường đại học (colleges) và tổng hợp (universities).

Đối với các trường đại học, sinh viên phải học 4 năm, cuối khóa sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng cử nhân (B.A.-Bachelor of Art, hoặc B.S.-Bachelor of Science) hoặc kiêm cả hai (cum laude) nếu kết quả thi tốt. Tiếp tục nghiên cứu chuyên đề hai năm nữa, nghiên cứu sinh có thể lấy bằng Thạc sĩ (MS-Master of Sciences hoặc MA-Master of Art, hoặc MBA- Master of Businness Ad-ministratinon). Chứng chỉ thạc sĩ là loại bằng 2 năm phục vụ cho việc đào tạo chuyên sâu vào một lĩnh vực cụ thể nào đó. Sinh viên có thể được nhận vào các chương trình đào tạo thạc sĩ nếu họ đã có bằng đại học trong lĩnh vực đó. Tuy nhiên, có rất nhiều trường hợp ngoại lệ, ví dụ như bằng MBA (thạc sỹ quản trị kinh doanh) không cần sinh viên phải tốt nghiệp đại học về quản trị kinh doanh. Bằng thạc sĩ của Mỹ chủ yếu yêu cầu học sinh cao học hoàn thành các khóa học trong 2 năm. Không giống như đại học, sinh viên cao học sẽ phải hoàn thành các môn học tập trung vào chuyên ngành chính của mình. Do đó sinh viên đại học thường phải quyết định nên chọn chuyên ngành gì trước khi đăng ký vào học các chương trình thạc sĩ.

Có bằng M.A, M.S hoặc M.B.A, sinh viên có thể tiếp tục nâng cao kiến thức và nghiên cứu chuyên sâu về một ngành hẹp nào đó (2 - 3 năm) để tham gia chương trình đào tạo và thi lấy bằng Tiến sĩ (Ph.D-Doctor of Philosophy). Ở bậc tiến sĩ, chương trình học và nghiên cứu sẽ tập trung sâu hơn ở bậc thạc sĩ. Một số sinh viên thường có bằng thạc sĩ trước khi đăng ký vào chương trình tiến sĩ, nhưng điều đó không bắt buộc.

Thông thường luận án tiến sĩ là một cuốn nghiên cứu rất dài, sâu rộng, tổng hợp và mới mẻ về một lĩnh vực cụ thể và hẹp. Nhiều người nhất trí rằng ở các bậc đào tạo cao như thạc sĩ, tiến sĩ, nghiên cứu và đào tạo chuyên môn thì các trường đại học ở Mỹ là một trong những nơi tốt nhất thế giới.
Lê Hoàng Việt Lâm
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang