QUỐC TẾ
Cập nhật 18:55 | 17/11/2018 (GMT+7)
.
Kinh nghiệm quốc tế về thuế tài sản

Phân chia mức thuế như thế nào?

07:38 | 08/07/2018
Các nước đều không có một khuôn mẫu chung thống nhất về thuế tài sản, do vậy mức thuế suất thuế tài sản cũng cũng được tính và áp dụng một cách phong phú. Nhìn vào kinh nghiệm của các nước có thể thấy có ba xu hướng chính về mức thuế suất thuế tài sản.

Một là, ban hành một mức thuế suất thống nhất cho cả nhà và đất. Theo cách này, nhà và đất chịu cùng một mức thuế suất (Indonesia, Phillipines, Thái Lan…).

Chẳng hạn ở Jakarta (Indonesia), thuế suất thuế nhà và đất thành thị và nông thôn được tính theo các mức từ 0,01 - 0,3% dựa trên giá trị giao dịch của nhà và đất; ở Surabaya (Indonesia), thuế suất thuế nhà đất thành thị và nông thôn được tính theo các mức từ 0,1 - 0,3% dựa trên giá trị giao dịch của nhà và đất.

Giá nhà đất do cơ quan định giá của địa phương (tỉnh, thành phố) quy định. Việc xác định giá nhà đất tính thuế căn cứ vào hai yếu tố: Giá FMV (Fair market value, được điều tra, số liệu thống kê), là giá nhà cao nhất mà một tài sản nhà đất có thể được mua bán trên thị trường mở, có đủ thời gian cho người mua và bán gặp gỡ, tìm hiểu để thỏa thuận mua bán.

Sau đó kết hợp với tỷ lệ định giá % (gọi tắt là AR- assessment ratio) đánh thuế nhà đất theo giá FMV để xác định giá trị nhà đất để tính thuế: 20% giá FMV đối với nhà đất, ở; 50% nhà đất thương mại, công nghiệp, khai khoáng; 40% đối với đất nông nghiệp; 20% đối với nhà đất khai thác gỗ; 15% nhà đất cho khoa học, văn hóa, bệnh viện.

Khung thuế suất phân biệt đối với các tỉnh, thành phố: Dưới 1% đối với các tỉnh; dưới 2% đối với các thành phố lớn và thủ đô Manila.

Các địa phương quy định mức thuế suất cụ thể áp dụng tại địa phương đó. Cách tính thuế: Thuế phải nộp = Giá FMV x AR x thuế suất.

Hai là, ban hành biểu thuế suất với nhiều mức, có sự phân biệt giữa các khu vực, vùng với các hệ số định giá khác nhau phụ thuộc vào loại tài sản (đất, nhà ở, máy móc) và mục đích sử dụng thực tế, tuy nhiên do áp dụng hệ số định giá, nên mặc dù mức thuế suất danh nghĩa thường trong khoảng 1 - 2% nhưng thuế suất thực tế thường thấp hơn 1%.

ở Philippines, thuế tài sản được quy định bởi Luật Chính quyền địa phương năm 1991. Căn cứ theo luật này, các tỉnh, thành phố, khu đô thị trong khu vực Manila được ủy quyền thu thuế theo tỷ lệ phần trăm trên tài sản bao gồm đất, nhà ở máy móc và thiết bị không được miễn. Tỉnh được áp dụng thuế suất thống nhất không được vượt quá 1% của giá trị định giá của bất động sản. Thành phố và đô thị trong khu vực Manila, thuế suất không vượt quá 2% giá trị định giá của bất động sản.

Giá trị định giá được xác định căn cứ trên hệ số định giá của giá trị thị trường bất động sản. Hệ số định giá đối với đất và máy móc thiết bị được xác định khác nhau phụ thuộc vào mục đích sử dụng thực tế. Đối với nhà và các bất động sản đi kèm, hệ số định giá được xác định căn cứ trên giá trị và mục đích sử dụng.

Căn cứ theo quy định của Luật Chính quyền địa phương, các địa phương được phép quy định hệ số định giá và thuế suất khác nhau giữa các địa phương nhưng không được vượt quá trần quy định trong Luật Chính quyền địa phương. Như vậy, thuế suất thực tế Philippines dao động trong khoảng 0,2 - 1,6%.

Ba là, ban hành biểu thuế suất lũy tiến theo giá trị tài sản và áp dụng các mức thuế suất khác nhau đối với các loại đất và nhà khác nhau, thường điều tiết cao hơn đối với đất như ở Hàn Quốc.

Hầu hết các quốc gia thường áp dụng theo thuế suất tương đối, rất ít nước áp dụng theo thuế suất tuyệt đối hoặc kết hợp cả hai hình thức. Ví dụ trong ASEAN, 7 nước áp dụng thuế tài sản theo thuế suất tương đối bao gồm Indonesia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Campuchia. Chỉ có Lào áp dụng theo biểu thuế suất tuyệt đối và 2 nước còn lại Brunei và Malaysia áp dụng kết hợp cả hai hình thức.

Đạt Quốc
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang