QUỐC TẾ
Cập nhật 23:03 | 15/07/2018 (GMT+7)
.
Pháp luật về giáo dục của Mỹ:

Cách mạng và mạnh mẽ

09:44 | 01/07/2018
Sở hữu nền giáo dục phát triển mạnh mẽ và mang tính thực tiễn cao, với hệ thống trường tốt nhất thế giới, Mỹ luôn quan tâm đến giáo dục để bảo đảm vị thế hùng cường của mình. Pháp luật liên quan đến lĩnh vực này đã được xây dựng từ rất sớm và liên tục cập nhật, bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với thời cuộc.

Từ tư nhân và tôn giáo đến thực tiễn

Ở thời kỳ thuộc địa, nền giáo dục Mỹ chủ yếu mang tính tư nhân và tôn giáo, trong đó tập trung vào việc học đọc và viết để hiểu Kinh thánh và luật mới tại các khu định cư. Luật Massachusetts năm 1642 được coi là luật về giáo dục đầu tiên, yêu cầu cha mẹ và người giám hộ phải “chắc chắn rằng con em của họ có thể đọc và hiểu các nguyên tắc tôn giáo và luật của khối Thịnh vượng chung Mỹ”. Luật Massachusetts sửa đổi năm 1647 và Đạo luật Old Deluder Satan được ban hành, yêu cầu những thị trấn có 50 gia đình trở lên phải thuê một hiệu trưởng để giúp dạy dỗ trẻ em học đọc và viết.

Vào thời lập nước, khoảng giữa thế kỷ XVII - XVIII, giáo dục ở các vùng thuộc địa Mỹ đã bớt chịu ảnh hưởng của châu Âu và hướng tới gần hơn các vấn đề thực tiễn liên quan đến thương mại và nông nghiệp. Đến thế kỷ XIX, bang Massachusetts và tiếp đó bang Connecticut đã thông qua các luật yêu cầu mọi thành phố, thị trấn phải chọn ra ủy ban giáo dục để tổ chức các trường công lập thành hệ thống thống nhất. Người ủng hộ chính của các trường công lập là ông Horace Mann, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Giáo dục Massachusetts năm 1837. Ông chính là người đã đưa ra hệ thống lớp học theo độ tuổi và thành lập các trường đào tạo giáo viên. Quan điểm của ông là các trường công miễn phí để giáo dục văn minh cho trẻ em cả về mặt xã hội lẫn đạo đức.

Năm 1862, Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật Morrill, cho phép cấp đất để thành lập các trường cao đẳng về kỹ thuật nông nghiệp và cơ khí. Bộ Giáo dục Mỹ ra đời năm 1867 để giúp các tiểu bang thiết lập hệ thống trường học hiệu quả bằng cách thu thập thông tin về các trường và giảng dạy. Nhưng mãi đến năm 1980, Bộ này mới được Quốc hội Mỹ chính thức thành lập. Năm 1890, Văn phòng Giáo dục Liên bang ra mắt, chịu trách nhiệm hỗ trợ quản lý cho các trường đại học được cấp đất.


Pháp luật Mỹ mong muốn mọi học sinh đều thành đạt

Nhấn mạnh vai trò cấp bang và liên bang

Theo truyền thống ở Mỹ, giáo dục chủ yếu là trách nhiệm của phụ huynh, chính quyền địa phương và tiểu bang. Hiến pháp Mỹ không đề cập tới giáo dục, do đó trong lần sửa đổi thứ 10, vai trò của chính phủ liên bang bị giới hạn. Tuy nhiên, do giáo dục được giám sát và thực hiện bởi nhiều cơ quan nhà nước và địa phương, bất bình đẳng giữa các hệ thống trường học đã nảy sinh. Vì lý do trên, một số nhà cải cách cho rằng chính quyền liên bang cần đóng vai trò lớn hơn trong việc thiết lập chính sách và tiêu chuẩn giáo dục. Trong khi đó, một số người ủng hộ sự kiểm soát chặt chẽ hơn của chính quyền địa phương và phụ huynh lại phản đối, với lập luận một cơ quan quan liêu ở tít xa không thể phục vụ lợi ích tốt nhất cho con cái mình.

Bước vào thế kỷ XX, khoảng cuối Thế chiến I năm 1918, gần 2/3 trẻ em Mỹ được tuyển vào các trường công và tất cả các bang đã thông qua luật về giáo dục bắt buộc. Những cải cách trong đầu thế kỷ này tập trung vào mở rộng trường trung học, một số người còn gọi đây là “Phong trào trung học”. Đây là thay đổi lớn thứ hai của nền giáo dục Mỹ, tập trung tăng tỷ lệ tốt nghiệp bằng cách đa dạng hóa các chương trình học tập, không chỉ bao gồm các môn học cơ bản truyền thống mà còn cả đào tạo nghề. Đạo luật Smith-Hughes (1917) và Đạo luật George-Barden (1946) được thông qua đã lôi kéo sự tham gia của cấp liên bang vào đào tạo kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp và kinh tế gia đình cho học sinh trung học. Những thay đổi trên đã làm thay đổi bộ mặt giáo dục công lập, thiết lập tiêu chuẩn hóa chương trình giảng dạy khi các trường trung học bắt đầu dạy nhạc hay các môn tự chọn khác, tính chuyên nghiệp của bộ máy cũng được nâng lên.

Đến nửa sau thế kỷ XX, vai trò của chính quyền liên bang được nâng lên chưa từng có. Năm 1958, Quốc hội Mỹ đã thông qua Luật Giáo dục Quốc phòng, trong đó “hỗ trợ các khoản vay cho sinh viên đại học, cải thiện các môn khoa học, toán học và giảng dạy ngoại ngữ ở các trường tiểu học, trung học, sau đại học cũng như đào tạo kỹ thuật nghề…”. Sau đó, Luật Giáo dục Tiểu học và Trung học, Luật Giáo dục Đại học tiếp tục được ra đời.

Đến thế kỷ XXI, hai vấn đề chính sách lớn tỏ ra nổi trội, đó là lựa chọn trường và thành tích học tập. Phụ huynh đòi hỏi phải có nhiều lựa chọn hơn và có vai trò tích cực hơn trong chọn trường tốt. Các nhóm cải cách và cơ quan chính phủ liên bang lẫn tiểu bang đã phải vật lộn với các vấn đề về tiêu chuẩn giáo dục chung… Có lẽ vì thế, để quản lý và giám sát các chương trình, Bộ Giáo dục Mỹ ngày nay có ngân sách lớn thứ ba trong các cơ quan của Chính phủ. Năm 2001, Luật Không trẻ em nào bị bỏ rơi được Quốc hội thông qua và Tổng thống Mỹ George W. Bush ký phê chuẩn ngày 8.1.2002. Văn bản đó đã cải cách giáo dục dựa trên triết lý thiết lập các tiêu chuẩn cao và mục tiêu cho các trường học để cải thiện kết quả cá nhân cho học sinh trường công lập. Luật yêu cầu các tiểu bang phát triển bài kiểm tra tiêu chuẩn hóa và đưa ra đánh giá cho tất cả học sinh ở một số cấp nhất định để nhận tài trợ của liên bang. Mỗi tiểu bang chịu trách nhiệm phát triển các tiêu chuẩn riêng.

Tuy nhiên, đến cuối năm 2015, Luật Mọi học sinh đều thành đạt được thông qua đã thay thế Luật Không trẻ em nào bị bỏ rơi, vốn bị chỉ trích suốt thập kỷ qua vì không hiệu quả. Luật mới trao quyền cho giới chức bang và địa phương có thể cải tiến hệ thống giáo dục của mình. 

Thái Anh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang